mở đầu một hƣớng nghiên cứu mới. Tác giả chƣa đƣa ra đƣợc các lý thuyết và mô hình về mô hình VHDN cụ thể của thế giới và việc ứng dụng nó trong công việc quản trị VHDN ở Việt Nam. 4 z Năm 2003, tác giả Trần Quốc Dân đã cho ra đời cuốn sách “Tinh thần doanh nghiệp giá trị định hƣớng của kinh doanh Việt Nam”. Tác giả xác định tinh thần doanh nghiệp chính là giá trị định hƣớng của văn hóa kinh doanh Việt Nam.
Nhƣ vậy tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu một số yếu tố trong văn hóa doanh nghiệp đó là “Tinh thần”. Ngoài ra có nhiều bài viết liên quan đến VHDN, đƣợc đăng rải rác trên các trên các tạp chí khoa học. Nổi bật hơn cả là bài bàn về Văn hóa và Văn hóa kinh doanh của GS. TS Hoàng Vinh, đăng trong “Thông tin Văn hóa và Phát triển” của Khoa Văn hóa XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2004, GS.
TS Hoàng Vinh đã đƣa ra một quan niệm, muốn xây dựng thuật ngữ “Văn hóa kinh doanh”. Tiếp theo đó, tác giả Nguyễn Mạnh Quân xuất bản cuốn sách “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty” (2007) và tác giả Dƣơng Thị Liễu cho ra đời “Bài giảng Văn hóa kinh doanh” (2008). Trong các tác phẩm này, hai tác giả đã đƣa ra các khái niệm cơ bản về văn hóa, văn hóa doanh nghiệp, ban đầu đã có khái quát một cách hệ thống cơ sở lý luận cho văn hóa doanh nghiệp. Tại khoa Văn hóa XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viên cao học chuyên ngành Văn hóa học, Trần Thị Thúy Vân đã bảo vệ thành công luân văn “Xây dựng Văn hóa doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.
Luận văn này đã có những đóng góp nhất định về phƣơng diện thực tiễn góp phần xây dựng VHDN nói chung ở một địa phƣơng (thành phố Hồ Chí Minh), song chƣa chú ý nhiều đến VHDN của một doanh nghiệp, đồng thời chƣa quan tâm đến vai trò của các doanh nghiệp với việc xây dựng VHDN. Tóm lại, tất cả những công trình nghiên cứu, những bài viết đã nêu ở trên của các tác giả rất có ý nghĩa cho việc hình thành cơ sở lý luận về VHDN, nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về VHDN của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tƣ nhân nói riêng. Vì vậy đề tài “Văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động” sẽ đóng góp đƣợc một phần nhỏ bé vào việc xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về VHDN, đồng thời đề xuất đƣợc một số đề xuất, định hƣớng giúp thúc đẩy hoạt động xây dựng và phát triển 5 z văn hóa trong doanh nghiệp. Đặc biệt, luận văn sẽ nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc phát triển VHDN.
Cơ sở lý luận chung về VHDN 1. Một số nội dung về VHDN 1. Văn hoá Cho tới nay, ngƣời ta thống kê có hơn 400 khái niệm về văn hóa.Việc xác định khái niệm văn hóa chung không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình nghiên cứu. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đƣa ra ở nhiều nƣớc khác nhau.
Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp (A.Kroeber và Kluckhohn, 1952). Tylor đƣa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”. Ở Việt Nam, văn hóa cũng đƣợc định nghĩa rất khác nhau. Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh, Nhật ký trong tù, 1943). Theo định nghĩa của UNESCO đƣợc thông qua trong bản tuyên bố những chính sách về văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 tới ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mê-hi-cô: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng. 6 z Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ , những công trình vƣợt trội bản thân. Văn hoá doanh nghiệp (VHDN) Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp đƣợc coi là một xã hội thu nhỏ. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ (doanh nghiệp) cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hoá riêng biệt.
Nền văn hoá ấy chịu ảnh hƣởng và đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nền văn hoá lớn. Nhƣ Edgar Schein, một nhà nghiên cứu về quản trị tổ chức nổi tiếng ngƣời Mĩ đã nói trong cuốn sách “Văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội”, xuất bản năm 2012: “Văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội. Văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.
Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm từ Corporate culture (Văn hoá doanh nghiệp) đã đƣợc các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lí sử dụng để chỉ một trong những tác nhân chủ yếu dẫn tới sự thành công của các công ty Nhật trên khắp thế giới. Đầu thập kỉ 90, ngƣời ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cấu thành cũng nhƣ những tác động to lớn của văn hoá đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Đã có rất nhiều khái niệm văn hoá doanh nghiệp đƣợc đƣa ra nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa chuẩn nào đƣợc chính thức công nhận.
Nhà xã hội học ngƣời Mỹ Edgar H. Schein cho rằng: "Văn hóa doanh nghiệp hoặc văn hoá tổ chức là tổng thể những thủ pháp và qui tắc giải quyết vấn đề thích 7 z ứng bên ngoài và thích ứng bên trong các nhân viên, những qui tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện tại. Những qui tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các thành viên của tổ chức không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những qui tắc và thủ pháp ấy mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu".
Ông Saite Marie, chuyên gia ngƣời Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Ở Việt Nam, trong cuốn sách "Văn hoá và triết lí kinh doanh", xuất bản năm 2000, Đỗ Minh Cƣơng đã đƣa ra một khái niệm văn hóa kinh doanh nhƣ sau: “Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là văn hoá mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của nó”. Lê Đăng Doanh: "Văn hóa doanh nghiệp (văn hoá trong kinh doanh) trước tiên là tôn trọng pháp luật, tôn trọng nhân phẩm con người, phải giữ chữ tín và điều này đòi hỏi người lãnh đạo doanh nghiệp phải có một bản lĩnh đổi mới…”.
Nhƣ vậy, văn hóa doanh nghiệp có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thƣờng xuyên của các cá nhân, kể cả những ngƣời sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp. Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của doanh nghiệp, tạo thành định hƣớng có tính chất chiến lƣợc cho bản thân doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp luôn đóng vai trò nhƣ một lực lƣợng hƣớng dẫn, một sức mạnh cố hữu trong doanh nghiệp, là ý chí thống nhất toàn thể lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp. 8 z Các khái niệm trên đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hoá doanh nghiệp nhƣ: Các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức… của doanh nghiệp nhƣng chƣa đề cập đến nhân tố vật chất - nhân tố quan trọng của văn hoá doanh nghiệp.