CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 1952, Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Cho đến nay, con số định nghĩa chắc đã tiếp tục tăng lên. Định nghĩa văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi trên thế giới là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra: “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng,thói quen mà con người đạt được vời tư cách là thành viên của một xã hội”, còn Edward Hall hiểu văn hóa là “ Một hệ thống nhằm sáng tạo, chuyển giao, lưu trữ và chế biến thông tin.
Sợi chỉ xuyên suốt tất cả các nền văn hóa là truyền thông và giao tiếp”. Tiến sĩ Federico Mayor,Tổng giám đốc UNESCO cho rằng “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khac, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”. Edouard Herriot, nhà văn nổi tiếng nước Pháp cho rằng “Văn hoá là cái còn lại khi ta quên đi tất cả, là cái còn thiếu khi ta học tất cả”. Giáo sư viện sỹ Trần Ngọc Thêm định nghĩa “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đình Giao định nghĩa “Văn hoá là tập hợp những giá trị, những ý niệm, niềm tin truyền thống được truyền lại và chia sẻ trong một quốc gia. Văn hoá cũng là cách sống, những nếp suy nghĩ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá có ý SVTT: NGUYỄN THỊ LĨNH ĐOAN K47B QTKD TỔNG HỢP 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán…” Theo chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với mọi biểu hiện của nó loài người sinh ra nhằm thích ứng nhưng nhu cầu đời sống và sự đòi hỏi của sự sinh tồn”. Mỗi người nhìn nhận văn hóa dưới một góc độ khác nhau.
Vì vậy, việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau không có gì là đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm cho vấn đề được hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra.
Tóm lại, văn hoá là một hệ thống ý nghĩa, nó bao gồm những biểu tượng, niềm tin và những giá trị nền tảng để dựa vào đó, các thành viên trong cộng đồng, về phương diện nhận thức, có thể phân biệt được cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, cái đạo đức và cái vô luân; về phương diện thẩm mỹ có thể phân biệt cái đẹp và cái xấu, cái hay và cái dở, cái đáng yêu và cái đáng ghét,… Hệ thống ý nghĩa đó đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành cộng đồng, ở đó mọi thành viên có thể truyền thông cho nhau và cảm thấy có sợi chỉ liên kết nhau, điều này làm cho tập thể trở thành một trong những đặc điểm nổi bật nhất của văn hoá.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Qua những khái niệm khác nhau về văn hóa, chúng ta có thể thấy văn hóa là một phạm trù rộng lớn và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa là dấu ấn của cả một cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm từ tín ngưỡng, tập quán. đến những sản phẩm tinh vi nhất được bán ra thị trường. Tuy nhiên văn hóa mang nhiều cấp độ khác nhau bao gồm như: văn hóa dân tộc, văn hóa kinh doanh, văn hóa hội SVTT: NGUYỄN THỊ LĨNH ĐOAN K47B QTKD TỔNG HỢP 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO nhập, văn hóa gia đình, văn hóa doanh nghiệp.
Các cấp độ văn hóa khác nhau thể hiện các giá trị khác nhau và phản ánh các đặc trưng khác nhau của các nhóm xã hội - người ta gọi đó là những nhóm tiểu văn hóa. Xuất phát từ sự thành công của các công ty Nhật Bản và ngay sau đó là các công ty của Mỹ, từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã chú ý tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp (hay là văn hóa công ty), và tác động của nó tới sự phát triển của một doanh nghiệp. Cho tới nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp được đưa ra như định nghĩa của một nhà xã hội học người Pháp: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các quan niệm, những biểu tượng, những giá trị, và những khuôn mẫu hành vi được tất cả các thành viên trong doanh nghiệp nhận thức và thực hiện theo”. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp, tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh.
Chức năng chủ yếu của văn hóa doanh nghiệp là tạo nên sự thống nhất của mọi thành viên trong công ty. Ngoài ra văn hóa doanh nghiệp còn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của tập thể và lợi ích cá nhân và giúp cho mỗi thành viên thực hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của doanh nghiệp. Nhìn chung, văn hóa doanh nghiệp động viên nghị lực và ý chí của các thành viên trong công ty và hướng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục tiêu chung của doanh nghiệp. Có một số định nghĩa khác về văn hóa doanh nghiệp như sau: “Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực”.) “Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường rong thời gian dài”.) “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.) SVTT: NGUYỄN THỊ LĨNH ĐOAN K47B QTKD TỔNG HỢP 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO Còn nếu nói nôm na: Nếu doanh nghiệp là máy tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành.
Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái còn thiếu khi ta có tất cả, là cái còn lại khi tất cả đã mất. Nhà xã hội học người Mỹ E. Schein đã ra định nghĩa: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết trong hiện tại”. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp.
Các thành viên của tổ chức doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa những quy tắc và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên, đó là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong Công ty học được trong vấn đề giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh. Chức năng chủ yếu của văn hóa doanh nghiệp là tạo nên sự thống nhất của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
Ngoài ra, văn hóa doanh nghiệp còn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân giúp cho mỗi cá nhân thức hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của doanh nghiệp. Nhìn chung văn hóa doanh nghiệp động viên nghị lực và ý chí của các thành viên trong doanh nghiệp và hướng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục đích doanh nghiệp. Như vậy, nội dung của văn hóa doanh nghiệp không phải là một cái gì đó tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và có quan hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và bên ngoài đặt ra cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp thể hiện được những nhu cầu, mục đích và phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp có được màu sắc riêng, tức là nhân cách hóa doanh nghiệp đó.Văn hóa doanh nghiệp là cơ sở của toàn bộ các chủ trương, biện pháp cụ thể SVTT: NGUYỄN THỊ LĨNH ĐOAN K47B QTKD TỔNG HỢP 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, có thể nói thành công hoặc thất bại của doanh nghiệp đều gắn với việc có hay không có văn hóa doanh nghiệp theo đúng nghĩa của khái niệm này. Từ những quan niêm khá đa dạng ở trên về văn hóa thì có thể gợi ra 3 cách hiểu về văn hóa doanh nghiệp: • Văn hóa doanh nghiệp là một từ tổ hợp chỉ tài năng, mưu mẹo, khôn khéo trong hoạt động doanh nghiệp (nghệ thuật làm doanh nghiệp). • Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là văn hóa trong doanh nghiệp, chỉ sự vận dụng các yếu tố văn hóa trong lĩnh vực này, nhằm tạo ra môi trường đạo đức cho hoạt động doanh nghiệp, làm sao cho hoạt động ấy vừa diễn ra lành mạnh, vừa đạt hiệu quả kinh tế tối ưu (đạo đức doanh nghiệp).