Chương 1: Cơ sở lý thuyết chung về văn hoá doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thép An Khánh Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thép An Khánh. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp trong nước và trên thế giới 1. Trong nước Bùi Quang Tuyến (2015), Nhận diện năng lực động của Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh.
Nghiên cứu của tác giả đã tìm ra một số năng lực động của Viettel có liên quan tới VHDN như văn hóa đổi mới sáng tạo, biến cái cũ thành cái mới theo những cách nghĩ mới, văn hoá thích ứng nhanh, nhận thức một vấn đề luôn có hai mặt theo văn hóa Đông – Tây, Viettel tạo ra môi trường và văn hóa làm việc cởi mở, thân thiện, có mục tiêu, có lý tưởng, mục đích chung rõ ràng.TS Dương Thị Liễu (chủ biên 2012) – Giáo trình Văn hoá kinh doanh – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân. Dựa trên cơ sở các giáo trình về đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và tinh thần kinh doanh của nhóm tác giả có uy tín trong và ngoài nước, giáo trình được tác giả lý luận, khảo sát để đưa ra tổng kết thành công và thất bại của các doanh nghiệp có tiếng tăm trong nước và nước ngoài. Qua đó, các doanh nghiệp có thể học hỏi, áp dụng những kiến thức hay và bổ ích về văn hóa kinh doanh cũng như những kỹ năng cần thiết để phát triển, nâng cao văn hoá kinh doanh trong hoạt động kinh tế, kinh doanh của doanh nghiệp mình. Phan Quốc Việt và Nguyễn Huy Hoàng (2012) – “Xây dựng VHDN – Yếu tố quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp”, Trung tâm Phát triển kỹ năng con người Tâm Việt.
Bài viết đã đề cập đến vấn đề xây dựng VHDN thành công qua 11 bước và khẳng định việc xây dựng VHDN không đơn thuần là liệt kê ra các giá trị mình mong muốn mà đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành viên, sự khởi xướng, cổ vũ, động viên của lãnh đạo. Qua đề tài, các tác giả đã nêu rõ sự cần thiết và ý nghĩa của việc xây dựng và duy trì VHDN trong một tổ chức PGS. Nguyễn Mạnh Quân (2012) – Giáo trình Đạo đức Kinh doanh và Văn hóa Công ty (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi bổ sung) NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Giáo trình xây dựng trên cơ sở các giáo trình về đạo đức kinh doanh, VHDN, qua đó cung cấp những vấn đề về đạo đức kinh doanh, các triết lý đạo đức trong kinh doanh và các nghĩa vụ trong trách nhiệm xã hội của công ty; Vận dụng trong quản lý - tạo lập bản sắc văn hóa công ty.
4 Thư viện ĐH Thăng Long Đào Việt Thanh (2012) - “Hoàn thiện VHDN tại Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Hải Dương”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Trong luận văn này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu văn hóa tại Công ty dựa trên 3 cấp độ của VHDN kết hợp với việc tìm hiểu các biểu hiện của văn hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp cần thiết để xây dựng và phát huy VHDN gồm có: Nâng cao nhận thức về VHDN; Đào tạo, phổ biến, tập huấn VHDN; Tuyển dụng nhân viên phù hợp với VHDN; Truyền thông một cách sâu rộng toàn diện về VHDN; Xây dựng quy chế khen thưởng, phê bình; Trao đổi, hội thảo, tổ chức diễn đàn trên trang web; Trang bị đồng phục cho nhân viên; Tổ chức các lễ hội, các hoạt động tập thể, các cuộc thi về VHDN. Đỗ Minh Cương (2011) –“Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010”; “Đổi mới văn hóa lãnh đạo, quản lý: lý luận và thực tiễn, NXB Lao động, Hà Nội”.
Hai cuốn sách này là nghiên cứu được tác giả trình bày có hệ thống trên cả lý luận và thực tiễn các vấn đề về văn hóa kinh doanh, văn hoá doanh nhân, VHDN trên thế giới và ở Việt Nam. Đỗ Thị Phi Hoài, (2009) – “Văn hóa doanh nghiệp” – NXB Tài chính. Nghiên cứu đề cập đến khái niệm về văn hóa doanh nghiệp, các cấp độ văn hoá doanh nghiệp, tác động của văn hóa doanh nghiệp đến hoạt động kinh doanh. Đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp, giai đoạn hình thành và cơ cấu thay đổi văn hóa doanh nghiệp và các dạng văn hóa doanh nghiệp.TS Bùi Xuân Phong (2006): “Đạo đức kinh doanh và VHDN” - NXB.
Thông tin và truyền thông. Cuốn sách được tác giả trình bày đầy đủ các khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của VHDN, các nhân tố tạo lập VHDN; nguyên tắc và quy trình xây dựng VHDN. Tác giả cũng trình bày văn hóa trong các hoạt động kinh doanh như hoạt động marketing, văn hóa trong ứng xử, trong đàm phán và thương lượng trong cuốn sách này…. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả mà văn hoá doanh nghiệp được khai thác dưới những góc độ khác nhau.
Các nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp trong nước được tìm hiểu ở trên đã đưa ra các khái niệm, đặc điểm, các cấp độ và vai trò của VHDN, văn hoá doanh nhân tác động đến VHDN, xây dựng và duy trì văn hoá doanh nghiệp dựa trên những phân tích, khảo sát và kiến thức thực tiễn của các tác giả. Nước ngoài Edgar H. Schein (2012), Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo, NXB Thời đại, cuốn sách bao gồm những những đặc điểm về văn hoá tổ chức, các loại hình văn hóa tổ chức, vai trò của người lãnh đạo trong việc sáng tạo và thiết kế văn hóa tổ chức, những cách thức quản lý của nhà lãnh đạo khi có sự thay đổi về văn hoá doanh nghiệp. Greert Hofstede- Gert Jan Hosfstede- Michael Minkov (2010), Culture and Organizations, NXB Mc Graw, các tác giả đã nghiên cứu toàn diện văn hóa của 70 quốc gia trên thế giới và trong vòng 40 năm viết về những đặc điểm văn hóa, những mặt tích cực và tiêu cực của văn hóa, sự hình thành văn hóa và những ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp.
Tại diễn đàn văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc – ASEAN (2010) có chủ đề “Học hỏi lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi” do Vụ văn hóa doanh nghiệp, Cục liên lạc văn hóa đối ngoại thuộc Bộ văn hóa Trung Quốc và Sở văn hóa khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây cùng đứng ra tổ chức diễn ra từ ngày 28-31/10/2010 tại thành phố Nam Ninh cũng đã đề cập đến một số vấn đề quan trọng của văn hoá doanh nghiệp Trung Quốc, xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp, ý nghĩa của việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp,… Diễn đàn đã tổ chức 4 cuộc hội thảo để làm rõ hơn các vấn đề của VHDN như “Hợp tác và học hỏi lẫn nhau trong phát triển văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc – ASEAN”, “Xây dựng và thúc đẩy môi trường giao lưu hợp tác mới về văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc – ASEAN”, “Tác dụng của văn hóa doanh nghiệp trong việc thiết lập và xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN” và “Vai trò của việc hợp tác, giao lưu trong diễn đàn văn hóa doanh nghiêp Trung Quốc – ASEAN”. Khoảng trống nghiên cứu Đề tài về VHDN trong nước và trên thế giới đã có rất nhiều công trình, nghiên cứu được nhiều tác giả tiếp cận. Tuy nhiên ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thép An Khánh thì vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách tổng thể và chi tiết, vì vậy đây là vấn đề không bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã có. Trên cơ sở tham khảo, kế thừa những kết quả của các tác giả đã nghiên cứu trước đó, kết hợp những kết quả nghiên cứu, những quan điểm cá nhân thông qua các hoạt động thực tiễn và quá trình thực tập, làm việc tại công ty, em đã chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thép An Khánh" để nghiên cứu.
Đây là 6 Thư viện ĐH Thăng Long một đề tài mang tính thực tiễn và xuất phát từ nhu cầu khách quan của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập toàn cầu và phát triển lâu dài. Một số vấn đề cơ bản về văn hoá doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hoá Văn hoá gắn liền với sự ra đời của nhân loại, con người xuất hiện đồng nghĩa với việc xuất hiện văn hoá.
Cùng với sự phát triển của xã hội và con người, khái niệm văn hoá ngày càng hoàn chỉnh và được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về văn hoá nên rất khó để thống kê và đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh vì khái niệm văn hoá vẫn tiếp tục tăng lên cùng với quá trình phát triển của nhân loại. Theo nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng trong dân tộc học: “Là một tổng thể phức hợp gồm nhiều kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo xuất bản năm 1998: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đã Nẵng và Trung tâm từ điển học xuất bản năm 2014 đưa ra quan niệm: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội”. Qua định nghĩa này, văn hoá được khẳng định là những sáng tạo của con người, được kết tinh thành giá trị và mang lại giá trị cho con người về vật chất và tinh thần. UNESCO phát triển thêm khái niệm về văn hoá vào tháng 12 năm 1986 như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.