CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hóa Khái niệm văn hóa rất rộng và đã xuất hiện từ rất lâu. Tuy nhiên hiện tại, vẫn chưa thực sự có một khái niệm chính xác giải thích văn hóa là gì, có rất nhiều khái niệm được đưa ra bởi những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
Kroeber và Kluckhohn sưu tầm được hơn 160 định nghĩa khác nhau về văn hóa do các nhà khoa học trên nhiều quốc gia đưa ra. Một vài định nghĩa tiêu biểu có thể kể đến: Theo định nghĩa của A. Kroeber và Kluckhohn: “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người, … Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tọa điều kiện cho hành vi tiếp theo”. Theo định nghĩa của nhà nhân chủng học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917): “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật phát, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Theo nhà khoa học F.Boas: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”. Theo nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ Edward Sapir (1884 – 1939): “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”. Theo tổ chức quốc tế UNESCO (2002): “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm, … khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội, … Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng”. 4 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 1998: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”. Như vậy, có thể thấy văn hóa là một phạm trù rất đa dạng và phức tạp, nó bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống và có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tính đến nay số lượng các định nghĩa về văn hóa vẫn chưa dừng lại.
Những định nghĩa ra đời sau này có tính bổ sung và hoàn thiện hơn cho những thiếu sót ở những định nghĩa trước. Sự phát triển không ngừng của văn hóa đã góp phần hình thành những nền văn hóa phần tử nhỏ hơn, biểu hiện chi tiết trong nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau như: Văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa học đường, văn hóa gia đình, … Và đặc biệt quan trọng trong việc triển khai tìm hiểu và phân tích về văn hóa doanh nghiệp. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Doanh nghiệp là một môi trường đa dạng và phức tạp, là nơi tập hợp những con người khác nhau về trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, chuyên môn, quan hệ xã hội, vùng miền, tư tưởng văn hóa, …. Vì vậy, trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp, “văn hóa” được cụ thể trở thành nét đặc trưng riêng và được gọi là “Văn hóa doanh nghiệp”.
Văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù trừu tượng, hiện nay có trên 300 định nghĩa khác nhau, một số những khái niệm thường được nghiên cứu và đề cập đến như là: Theo chuyên gia nổi tiếng người Mỹ - Edgar Schein (2012): “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và ứng xử với môi trường xung quanh”. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO – International Labour Organization) lại coi: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen, truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. 5 Theo chuyên gia người Pháp Georges de Saite Marie: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Theo Cameron và Quinn (2011): “Văn hóa doanh nghiệp được hiểu như những đặc điểm, phẩm chất đặc trưng của tổ chức để phân biệt với tổ chức khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”.TS Đỗ Minh Cương: “Văn hóa doanh nghiệp (Văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”.
Đỗ Thị Phi Hoài (2017): “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Trên cơ sở kế thừa những định nghĩa, nghiên cứu của các học giả trước và hệ thống nghiên cứu logic về văn hóa, văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa theo PGS. Dương Thị Liễu như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Đầu tiên, cần phải khẳng định rằng văn hóa doanh nghiệp là một trong những nhân tố tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp ngoài những yếu tố về nguồn vốn, máy móc công nghệ, … Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được.
Trong xu hướng xã hội ngày nay, nguồn lực của một doanh nghiệp là con người và văn hóa doanh nghiệp chính là sợi dây liên kết toàn bộ nhân viên tạo thành một thể thống nhất. Do vậy, có thể khẳng định văn hóa doanh nghiệp chính là tài sản vô giá và vô hình của doanh nghiệp. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp được thể hiện như sau: 6 Tạo ra nét đặc trưng, bản sắc riêng cho doanh nghiệp: Việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp khẳng định được tên tuổi của mình và để nhận biết được sự khác nhau giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Sự khác biệt đó được thể hiện ở những giá trị tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp như: sự trung thành của mỗi nhân viên, bầu không khí làm việc của doanh nghiệp như một gia đình nhỏ, đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thảo luận và ra quyết định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định, chính sách của doanh nghiệp.
Là tài sản vô hình và vô giá, không thể thay thế của doanh nghiệp: Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có những mục tiêu kinh doanh, nguồn lực và sức mạnh riêng. Do đó văn hóa doanh nghiệp cũng có thể tạo ra sức mạnh riêng của doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp khác nhau sẽ có những nét văn hóa riêng biệt khác nhau để có thể thu hút và giữ chân người lao động cũng như có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở những mức độ khác nhau, điều này làm cho mỗi doanh nghiệp có những sức mạnh khác nhau và trở thành một phần tài sản quý báu của doanh nghiệp. Đem lại lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng cho doanh nghiệp: Văn hóa doanh nghiệp tốt giúp cho doanh nghiệp thu hút và giữ chân được nhân tài, củng cố được lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.
Nhân viên phần lớn sẽ trung thành, gắn bó với doanh nghiệp khi doanh nghiệp có môi trường làm việc tốt, khuyến khích và thúc đẩy họ phát triển. Các đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước, làm theo doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh như vốn, kỹ thuật, phát triển thị trường, … Tuy nhiên, đối thủ cạnh tranh lại không thể bắt chước hay đi mua được sự cống hiến, lòng tận tâm và trung thành của từng nhân viên trong doanh nghiệp vì họ không có được những giá trị văn hóa khác biệt, phù hợp với mong muốn của người lao động. Như vậy, có thể thấy văn hóa doanh nghiệp sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng của doanh nghiệp khi các nhà quản lý có thể biến cá giá trị văn hóa đó thành lợi nhuận và đưa nó thành một phần giá trị của mỗi nhân viên trong doanh nghiệp. Tạo ra khả năng thích ứng cao: Có một sự thật rằng, chỉ có một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh thì mới có khả năng thích ứng cao với những thay đổi liên tục từ bên ngoài.
Như chúng ta đã thấy mọi yếu tố xã hội, khoa học công nghệ, khả năng của con người đang thay đổi từng ngày, từng giờ và một doanh nghiệp tốt hôm nay nhưng chưa chắc đã là tốt trong tương lai nếu không có sự định hướng cho những sự thích ứng đó ngay 7 từ bây giờ.