CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp VHDN có một vai trò quan trọng không chỉ đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn là một giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có thể nói VHDN là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là một nguồn động lực giúp thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững, định hướng các hoạt động, tạo ra được sự đồng thuận trong tư tưởng và hành động, kết nối từng cá nhân trong một doanh nghiệp. Hơn nữa, VHDN là bản sắc, là đặc điểm để phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, mang tính di truyền qua nhiều thế hệ thành viên.
Hoàn thiện được VHDN cũng chính là giúp cho doanh nghiệp xây dựng một bệ phóng để phát triển, khuyến khích sự sáng tạo những cái mới, tiến bộ, bởi bản chất của văn hóa cũng là sự sáng tạo Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều khía cạnh của văn hóa doanh nghiệp và các nghiên cứu nổi bật sẽ được nêu ra dưới đây: 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ xưa tới nay, khi nhắc đến thuật ngữ văn hóa doanh nghiệp và những khái niệm liên quan thì nó luôn được rất nhiều tác giả phương tây đặc biệt quan tâm và nghiên cứu. Thực tế, chỉ khi chứng kiến được sự thành công của các công ty ở Nhật Bản, lúc này các công ty Mỹ mới bắt đầu dành sự quan tâm và chú ý tới VHDN vào đầu những năm 70.
Tuy vậy, ban đầu họ chỉ có thể tìm hiểu sơ bộ và chưa có tính chuyên sâu vào VHDN đề rồi mãi tới đầu năm 90 mới có một số tác giả nghiên cứu điển hình. Song, khái niệm về VHDN dưới góc độ từng người lại có những nhận định khác nhau nên cho đến ngày nay vẫn chưa thể có một khái niệm rõ ràng và chuẩn xác được công nhận chính thức. Từ đó dưới đây, em xin nêu ra một vài nghiên cứu nổi bật về VHDN trên thế giới: Theo quan điểm của Edgar H.Schein (2004) - cựu giáo sư tại Trường quản lý MIT Sloan đã phát triển một mô hình văn hóa tổ chức để làm cho văn hóa trở nên rõ ràng hơn trong tổ chức. Mô hình văn hóa của Edgar Schein là VHDN được chia làm ba cấp độ: Biểu hiện hữu hình, giá trị chia sẻ, niềm tin ngầm định.
Ông cũng chính 5 là tác giả của cuốn “Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo” tác phẩm phân tích các lý luận về VHDN và mối quan hệ giữa VHDN với lãnh đạo của tổ chức Greert Hofstede - Gert Jan Hosfstede- Michael Minkov (2010), Culture and Organization, NXB Mc Graw: Đây là cuốn sách nghiên cứu toàn diện văn hóa của 70 quốc gia trên thế giới trong vòng 40 năm viết về những đặc điểm văn hóa, những mặt tích cực và tiêu cực của văn hóa, sự hình thành văn hóa và những ảnh hưởng của nó tới văn hóa tổ chức. Theo quan điểm của Cameron và Quinn (2006), văn hóa được xem xét dưới bốn loại hình sau: Văn hóa hợp tác, văn hóa sáng tạo, văn hóa cạnh tranh và văn hóa cấp bậc. Tác giả cũng đề xuất công cụ đánh giá VHDN về lượng OCAI (Organisational Culture Assessment Instrument) để đánh giá về mô hình hiện tại và mong muốn tổ chức. Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về VHDN có thể kể đến như Trompenaars (1998); John Kotter (1992) về lý thuyết VHDN; Ricardo Jolly (1997) ảnh hưởng của VHDN đến sự cam kết của nhân viên; Ferrell, Fraedrich & Ferrell, (2008) về đạo đức kinh doanh; Robbins (1997) về nhận thức của nhân viên, lãnh đạo để tạo nên một doanh nghiệp khác biệt.
Các nghiên cứu ở trong nước Ngoài các nghiên cứu của nước ngoài thì tại Việt Nam có phần ra đời muộn hơn về khái niệm của VHDN, sự hình thành và thay đổi của VHDN, tác động của VHDN tới doanh nghiệp. Dưới đây là các nghiên cứu nổi bật tại Việt Nam: TS. Đỗ Minh Cương (2011) –“Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010”; “Đổi mới văn hóa lãnh đạo, quản lý: lý luận và thực tiễn, NXB Lao động, Hà Nội”. Đây là những công trình trình bày có hệ thống trên cả lý luận và thực tiễn về các vấn đề văn hóa kinh doanh, văn hoá doanh nhân, VHDN của thế giới và Việt Nam PGS.
Nguyễn Mạnh Quân (2012) – Giáo trình Đạo đức Kinh doanh và Văn hóa Công ty (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi bổ sung) NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Giáo trình cung cấp những vấn đề về đạo đức kinh doanh, các triết lý đạo đức trong kinh doanh và các nghĩa vụ trong trách nhiệm xã hội của công ty; Vận dụng trong quản lý - tạo lập bản sắc văn hóa công ty.TS Dương Thị Liễu (2012) – Giáo trình Văn hoá kinh doanh – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân. Giáo trình xây dựng trên cơ sở các giáo trình về đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, tinh thần kinh doanh của nhóm tác giả có uy tín.trong và ngoài nước. Thông qua lý luận và khảo sát, tổng kết thành công cũng như thất bại của các doanh nghiệp nổi 4 tiếng trong và ngoài nước, giáo trình trang bị cho người học những kiến thức chung về văn hóa kinh doanh và những kỹ năng cần thiết để tổ chức, ứng dụng và phát triển các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh tế, kinh doanh.TS Bùi Xuân Phong (2006): “Đạo đức kinh doanh và VHDN” - NXB.
Thông tin và truyền thông. Công trình này trình bày khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của VHDN, các nhân tố tạo lập VHDN; nguyên tắc và quy trình xây dựng VHDN. Ngoài ra công trình cũng trình bày văn hóa trong các hoạt động kinh doanh như hoạt động marketing, văn hóa trong ứng xử, trong đàm phán và thương lượng….Ngoài ra, trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, GS.TS Bùi Xuân Phong có công bố một số tác phẩm như: “Duy trì và phát triển VHDN nhằm phát triển bền vững và hội nhập quốc tế VNPT” (3/2010); “Bàn về quy trình xây dựng VHDN”.Trên góc độ của một nhà nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tầm quan trọng của VHDN đối với sự phát triển bền vững của tổ chức, cụ thể là VNPT. Tác giả tập trung đánh giá công tác xây dựng VHDN tại VNPT, những giải pháp trước mắt và lâu dài để phát triển văn hoá VNPT trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Phùng Xuân Nhạ (2010), “Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, là đề tài cấp nhà nước, Mã số: KX. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm lý luận của các công trình nghiên cứu đã có, tác giả đã xây dựng các mô hình cấu trúc nhân cách doanh nhân (NCDN) và VHKD Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế dưới hình thức mô hình cấu trúc phân tầng với bảng thang các giá trị chi tiết NCDN Việt Nam và VHKD. Đề tài cũng tập trung tìm hiểu nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở một số nước trên thế giới để tìm ra những điêm tương 7 đồng và khác biệt trong NCDN và VHKD giữa Việt Nam với các nước đặc biệt ở hai “khu vực văn hóa” – phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc) và phương Tây (Mỹ, Do Thái) để rút một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả đã tiến hành phân tích kết quả khảo sát là cơ sở để khẳng định tính hợp lý của các mô hình cấu trúc NCDN và VHKD, đồng thời là căn cứ thực tiễn quan trọng để đề xuất các quan điểm, giải pháp cho phát triển NCDN và VHKD Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế.
Từng quan điểm, giải pháp được phân 5 tích với các luận cứ cụ thể. Cũng thông qua đề tài tác giả đã dự báo xu hướng biển đổi của NCDN và VHKD trong thời gian tới. Sau khi xem qua về các nghiên cứu trước đó, thì em nhận ra rằng các nghiên cứu trước tập trung khá nhiều vào hai cấp độ đầu tiên (cấu trúc hữu hình doanh nghiệp và giá trị được công nhận) mà rất ít người nghiên cứu sâu về cấp độ thứ ba (giá trị nền tảng). Theo em thấy, cấp độ này mới chính là cấp độ quan trọng nhất vì nó có thể quyết định được sự vượt trội và khác biệt hóa của doanh nghiệp trên thị trường.
Vì vậy, những nghiên cứu trước đó chỉ được nêu ra với mục đích tham khảo để có thể giúp tác giả nghiên cứu sâu hơn về khóa luận này. Những vấn đề cơ bản của văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Có thể nói rằng văn hóa luôn gắn liền với sự phát triển của nhân loại.
Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Đó là một khái niệm với rất nhiều nghĩa khác nhau về cả đối tượng tính chất và hình thức biểu hiện Theo một nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) thì văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tập thể phức hợp gồm nhiều kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, phong tục, luật pháp, và bất kể những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận dược với tư cách là một phần trong xã hội Theo Edward Sapir (1884-1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ cho rằng bản thân con người chính là văn hóa, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống. 8 Theo một nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889-1968) khẳng định rằng hiểu văn hóa với nghĩa rộng nhất thì văn hóa chỉ tổng thể những gì tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến quy cách ứng xử với nhau. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và trung tâm từ điển học xuất bản năm 2014 đưa ra quan niệm: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.