Tổng quan luận án
Tục thờ cúng Hậu là một dạng thức cung tiến có báo đáp mang tính chất tôn giáo đặc thù trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Người cung tiến tài sản (ruộng đất, tiền bạc) hoặc có công đức đối với cộng đồng làng xã được ghi nhận, tôn vinh và đáp lại bằng việc phụng thờ sau khi qua đời. Toàn bộ các cam kết, điều khoản và thông tin liên quan thường được khắc ghi trên bia đá đặt tại các không gian tín ngưỡng công cộng như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ. Mặc dù tư liệu văn khắc Hán Nôm (VKHN) về tục thờ Hậu chiếm tỷ trọng rất lớn trong kho tàng di sản thành văn, các nguồn thư tịch cổ lại ghi chép rất tản mạn. Do đó, việc nghiên cứu văn bia Hậu là con đường tối ưu để bù đắp khoảng trống tư liệu, giải mã bức tranh kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống tôn giáo truyền thống.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm của nghiên cứu sinh Bùi Quốc Linh với đề tài "Nghiên cứu văn bia Hậu tỉnh Thái Bình" (bảo vệ năm 2024 tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường và PGS.TS Trần Trọng Dương) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ học thuật cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu toàn diện nhóm tư liệu văn bia Hậu tỉnh Thái Bình trên cả hai phương diện hình thức văn bản và nội dung phản ánh nhằm làm nổi bật đặc trưng của khối tư liệu này; qua đó tìm hiểu sâu các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội và sinh hoạt tôn giáo - tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương trong lịch sử.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Thống kê toàn bộ số lượng văn bia Hán Nôm của tỉnh Thái Bình đã được sưu tầm, xác định tập mẫu dữ liệu văn bia Hậu của tỉnh kết hợp công tác điền dã; chỉnh lý tư liệu, quy đổi địa danh, xác định niên đại và kiểm chứng thực địa để xây dựng bộ dữ liệu đạt chuẩn khoa học.
- Thứ hai: Giải đọc, biên mục và phiên dịch văn bản văn bia Hậu trong tập mẫu nhằm thu thập thông tin định tính và thống kê định lượng; tổng hợp dữ liệu dưới dạng bảng, biểu.
- Thứ ba: Quy đổi các thông tin số liệu về các đơn vị đồng nhất nhằm tạo tiền đề so sánh nội bộ giữa các huyện trong tỉnh Thái Bình cũng như đối sánh với các địa phương khác trên cả nước.
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ 603 văn bia Hậu xuất hiện trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện nay (hình thành từ nguồn 331 thác bản do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp - EFEO sưu tầm đầu thế kỷ XX, 1327 văn bia do Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm giai đoạn 1992–2008 tại hơn 80% số xã phường, và 06 văn bia do tác giả điền dã sưu tầm bổ sung). Đối tượng nghiên cứu gián tiếp là tục thờ cúng Hậu gắn liền với các thực hành bầu Hậu, lập Hậu, gửi Hậu, gửi giỗ, cung tiến tại Thái Bình.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Thái Bình hiện nay, vốn là vùng châu thổ hạ lưu sông Hồng và sông Luộc, thuộc trấn Sơn Nam thượng thời Lê và từng thuộc Nam Định, Hưng Yên thời Nguyễn trước khi thành lập tỉnh vào ngày 21-3-1890.
- Phạm vi thời gian: Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, giới hạn bởi văn bia Hậu sớm nhất là bia ký hiệu ST.01 Vô đề khắc năm 1586 tại chùa Nghinh Phúc (xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ) và văn bia muộn nhất là bia số N°29681 Canh thân niên bi ký khắc năm 1980 tại thôn Mỹ Lộc (xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích và điểm lại các hướng nghiên cứu lớn về văn bia Hậu và tục thờ cúng Hậu của giới học thuật trong và ngoài nước qua 5 nhóm hướng nghiên cứu chính:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Nội dung và luận điểm chính |
| 1. Khái quát về văn bia Hậu |
Dương Thị The, Phạm Thị Thoa (1987) |
Phân chia 3 nhóm đối tượng bầu Hậu (người có công đánh giặc, người có công đức với làng, người bỏ tiền/ruộng mua Hậu) qua 23 bia đình Đông Ba (Từ Liêm, Hà Nội). |
|
Trần Thị Kim Anh (2004) |
Tra cứu tự nguyên chữ "Hậu"; dẫn chứng sách Hồng Đức thiện chính thư; nhận định văn bia bầu Hậu xuất hiện từ thời Lê trung hưng. |
|
Phạm Thị Thùy Vinh (2006) |
Phản bác niên đại thế kỷ XV của tục bầu Hậu; khẳng định lệ bầu Hậu xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII; phân tích các tự dạng 后/後/侯. |
|
Nguyễn Ngọc Quỳnh (2009) |
Tiếp cận kinh tế học Marx; phát hiện loại hình "bia ký Hậu kiểu mới" giữa thế kỷ XX bằng chữ Quốc ngữ kèm ảnh chân dung. |
|
Trịnh Khắc Mạnh (2022, 2023) |
Xác định tục cúng sau Phật/Thần có từ thời Lý - Trần, văn bia xuất hiện từ thế kỷ XVI; định danh văn bia Hậu là "tín từ" (Words of trust). |
|
Trần Trọng Dương (2014, 2020) |
Phát hiện bia Từ Ân tự bi minh tịnh tự (1382) tại Thái Bình; xây dựng mô hình mua Hậu 9 thành phần. |
|
Nguyễn Văn Nguyên (2023) |
Chuyên khảo Hoạt động cung tiến và tục bầu Hậu: phân tích hai nguồn gốc giáo pháp Phật giáo (Bố thí độ và Siêu độ); phân tích tương quan thanh tiền, sử tiền, cổ tiền. |
|
Philippe Papin (2023) |
Chuyên khảo tiếng Pháp về sinh thể văn bia: phân loại cung tiến không báo đáp (dons gracieux) và cung tiến có báo đáp (dons avec contreparties). |
| 2. Theo giai đoạn lịch sử |
Lê Văn Cường (2009) |
Khảo sát 251/352 văn bia thờ Hậu thời Tây Sơn trên 16 tỉnh, thành phố. |
|
Tống Văn Lợi (2017) |
Khảo sát 186 bia Hậu thế kỷ XVII–XVIII tại Tiên Lãng (Hải Phòng), chỉ ra hiện tượng bùng nổ trùng tu đình chùa. |
|
Vũ Thị Mai Anh (2009, 2015) |
Chuyên khảo Đời nay cung tiến - ngàn sau phụng thờ: nghiên cứu 372 bia Hậu thời Nguyễn (1802–1903) tại 10 xã châu thổ sông Hồng. |
| 3. Theo đơn vị địa phương |
Nguyễn Văn Tuân (1996) |
Khảo sát 261/509 bia Hậu huyện Yên Phong (Bắc Ninh). |
|
Nguyễn Thị Bích Trà (2011) |
Khảo sát 523/1147 bia Hậu địa bàn Hà Tây cũ. |
|
Nguyễn Xuân Báo (2022); Nguyễn Viết Vinh (2024) |
Khảo sát bia Hậu Phật huyện Đan Phượng (50 bia) và huyện Việt Yên (102 bia). |
|
Nguyễn Kim Măng; Dương Văn Hoàn; Nguyễn Quang Khải (2016); Lou Vargas (2023) |
Các công trình thống kê và phân tích văn bia Hậu tại Ninh Bình (56 bia), Hưng Yên (463 bia), Bắc Ninh (1273 bia) và Bắc Ninh thế kỷ XVIII (571 bia). |
| 4. Theo loại danh vị Hậu |
Trần Thị Thu Hường (2015, 2020) |
Chuyên khảo Nghiên cứu bia Hậu Thần Việt Nam (Thế kỷ XVII-XVIII): xác định bia Hậu Thần sớm nhất năm 1617 tại đình Đồng Khê (Hải Dương). |
|
Nguyễn Hữu Mùi, Lê Thị Thu Hương (2020); Nguyễn Hữu Mùi (2022) |
Khảo sát 185 bia Hậu Phật thế kỷ XVII và 34 văn bia Hậu Hiền của hội Tư văn, Tư võ (1716–1891). |
|
Mai Thu Quỳnh (2022, 2023) |
Khảo sát 175–177 văn bia Hậu Tộc; xác định bia sớm nhất năm 1686 tại đình Nhân Lý (Hải Dương). |
|
Nguyễn Thị Hoàng Quý (2005); Bùi Quốc Linh (2019) |
Giới thiệu loại hình "Hậu hóa" trên bia Nôm năm 1942 tại nhà thờ Công giáo thôn Mai Châu (Đông Anh, Hà Nội). |
|
Lâm San Văn (Đài Loan) |
Đối sánh Hậu Hiền với tòng tự Văn miếu, phù điêu tượng Hậu với họa tượng Đôn Hoàng, Hậu Phật với "công đức tự" đời Đường. |
| 5. Vấn đề kinh tế & giới tính |
Philippe Papin (2015) |
Đo lường giá trị tài sản theo sức mua (Purchasing Power) qua 3 bia làng Vân Các (Bắc Giang); đề xuất quy đổi chuẩn về sào và tiền sử. |
|
Bùi Quốc Linh (2022); Trịnh Khắc Mạnh (2023) |
Khảo sát vai trò phụ nữ, tương quan giới tính trong hoạt động cung tiến và bầu Hậu. |
| 6. Văn bia tại Thái Bình |
Đỗ Tuyết Nhung (2021); Mai Hồng (2003); Bùi Quốc Linh (2023) |
Khảo sát cụm bia chùa Đại Bi (Đông Hưng), 7 bia đền Sành (Đông Hưng), và công bố tổng thể 603 văn bia Hậu tỉnh Thái Bình. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Hầu hết các công trình trước đây chỉ khai thác nguồn tư liệu của EFEO mà bỏ sót kho thác bản lớn sưu tầm sau năm 1992 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, hoặc chỉ giới hạn ở một danh vị Hậu, một thời kỳ lịch sử hẹp, hoặc một vài làng xã đơn lẻ. Chưa có công trình nào khảo sát toàn thể các loại hình văn bia Hậu trên phạm vi trọn vẹn một đơn vị hành chính cấp tỉnh suốt tiến trình từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX. Luận án của NCS Bùi Quốc Linh giải quyết trọn vẹn khoảng trống này đối với địa bàn tỉnh Thái Bình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết Văn hiến học Hán Nôm: Tiếp cận văn khắc như một bộ phận cấu thành của di sản văn hiến; nghiên cứu quy luật hình thành, phương pháp chỉnh lý, phân loại loại hình văn bản, công năng sử dụng và nguồn gốc định hình của tư liệu văn khắc qua từng giai đoạn lịch sử.
- Lý thuyết Địa - văn hóa tôn giáo (Theory of Geo-culture and Religion): Phát triển từ Địa lý nhân văn, dùng dữ liệu địa lý - sinh thái để giải thích các thực hành văn hóa, tập tục tôn giáo. Lý thuyết này giúp luận giải sự xuất hiện của tục thờ Hậu như một sản phẩm đặc thù của môi sinh văn hóa Việt Nam (không có hiện tượng tương đương ở Trung Quốc hay các nước đồng văn), đồng thời giải thích đặc thù văn bia Hậu tại Thái Bình.
- Lý thuyết Tôn giáo học (Religion studies):
- Cách tiếp cận thực thể tôn giáo (fait religieux): Xem tục thờ cúng Hậu là một thực thể tôn giáo khách quan, hoàn chỉnh, chứa đựng hệ thống niềm tin và thực hành hướng tới việc tưởng niệm công đức hơn là sùng bái đấng siêu nhiên quyền năng.
- Cách tiếp cận không gian thiêng (Sacred Space): Xác định văn bia Hậu vừa là một văn bản khế ước mang tính "tín từ" (Words of trust), vừa là một thực thể linh thiêng đại diện cho vị Hậu để tiếp nhận báo đáp định kỳ trong di tích tôn giáo.
Khung phân tích: Mô hình quan hệ cung tiến - báo đáp 4 bên
Tác giả đề xuất mô hình 4 chủ thể tham gia vào mạng lưới cung tiến - báo đáp của tục thờ cúng Hậu:
- Bên công đức (A): Cá nhân, vợ chồng hoặc gia tộc đóng góp tiền bạc, ruộng đất.
- Bên tiếp nhận công đức (B): Cộng đồng làng xã, hội đồng kỳ mục, quan viên, hội đồng quản hạt hoặc người quản lý cơ sở thờ tự.
- Bên sử dụng công đức (C): Cơ sở tín ngưỡng (chùa, đình, đền, miếu, văn chỉ, từ đường) hoặc công trình công cộng (cầu, chợ, điếm).
- Bên hưởng thụ thí báo (D): Đối tượng được tôn bầu ngôi vị Hậu, được nhận ưu đãi khi còn sống và hưởng tế tự, giỗ chạp sau khi qua đời.
[A: Bên công đức] ------------> [B: Bên tiếp nhận]
| |
v v
[D: Bên thụ hưởng] <----------- [C: Bên sử dụng]
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp Văn bản học: Khai thác chứng cứ nội tại và ngoại tại, phối hợp Địa danh học, Văn tự học, Kỵ húy học, Hiệu khám học để giám định niên đại, tính chân ngụy và độ khả tín của thác bản.
- Phương pháp Bi ký học (Epigraphy / Kim thạch học): Phân tích các yếu tố hình thức vật thể, tác giả, thời điểm tạo tác và giá trị tư liệu của bia đá.
- Phương pháp Mục lục học (Bibliography): Biên mục, phân loại, đối chiếu các bộ Thư mục thác bản của EFEO và Viện Nghiên cứu Hán Nôm để loại bỏ trùng lặp, xác định thiện bản.
- Phương pháp Định tính và Định lượng: Lượng hóa các thông tin về niên đại, địa bàn phân bố, diện tích ruộng đất, số lượng tiền tệ qua các bảng thống kê và biểu đồ phân tích.
- Phương pháp Điền dã Nhân học: Áp dụng quan sát - tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc tại di tích để kiểm chứng không gian tồn tại thực tế và sưu tầm văn bia mới.
Nguồn tư liệu
Toàn bộ tập mẫu gồm 603 đơn vị văn bia Hậu tại tỉnh Thái Bình, được xử lý quy đổi đồng nhất: diện tích đất quy về đơn vị sào Bắc Bộ, tiền tệ quy về đơn vị quan sử tiền và đối chiếu giá trị tương đương qua bạc nén và đồng bạc Đông Dương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thuyết các khái niệm và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này xác lập hệ thống khái niệm công cụ và tổng quan lịch sử nghiên cứu. Tác giả phân tích ngữ nghĩa 4 tự dạng chữ Hán dùng ghi chữ "Hậu" (后, 後, 侯, 厚), chỉ ra nghĩa gốc là "phía sau, đời sau" và nghĩa phái sinh của chữ 侯 là "hầu hạ, chầu chực" (như trường hợp bia Hầu Thần Hậu tại chùa Khánh La, Đông Hưng). Tác giả phân biệt rõ sự khác nhau giữa "bầu Hậu" và "ký kỵ/gửi giỗ": người được bầu Hậu nhận danh xưng tôn kính (ông Hậu, bà Hậu), được chia phần lễ vật ngay khi còn sống và hưởng giỗ khi qua đời; trong khi gửi giỗ chỉ thuần túy nhận tế tự sau khi mất. Chương 1 cũng trình bày chi tiết mô hình quan hệ 4 bên và tổng thuật 5 hướng nghiên cứu của các học giả đi trước.
Chương 2: Khảo sát văn bia Hậu tỉnh Thái Bình
Chương 2 tiến hành lượng hóa và phân loại toàn bộ 603 văn bia Hậu tỉnh Thái Bình theo các tiêu chí:
- Phân bố không gian: Thống kê số lượng văn bia Hậu theo đơn vị hành chính cấp huyện và theo loại hình di tích (chùa, đình, đền, miếu, từ đường, văn chỉ).
- Phân bố thời gian: Phân loại theo triều đại (Mạc, Lê trung hưng, Tây Sơn, Nguyễn), giai đoạn mỹ thuật, niên hiệu, thập niên và thế kỷ. Dữ liệu ghi nhận văn bia Hậu Thái Bình xuất hiện dày đặc từ thế kỷ XVII (thời Lê trung hưng), đạt đỉnh cao ở các niên hiệu Chính Hòa, Cảnh Hưng và tiếp tục duy trì sang thời Nguyễn.
- Phân loại danh vị Hậu: Xác định cơ cấu các danh vị Hậu Phật, Hậu Thần, Hậu Hiền, Hậu Tộc và các hình thức phối thờ.
- Đặc điểm văn bản: Phân tích các thể loại văn học sử dụng trong bi ký (văn xuôi, bi minh, văn vần, kệ), bố cục quy chuẩn của văn bia Hậu và phân định 3 nhóm nội dung chính trong văn bản (hành trạng công đức, tài sản cung tiến, quy định báo đáp tế tự).
Chương 3: Văn bia Hậu tỉnh Thái Bình với vấn đề tôn giáo - tín ngưỡng
Chương 3 đi sâu vào các khía cạnh tôn giáo - tín ngưỡng được phản ánh trên bi ký:
- Tục thờ cúng Hậu: Phân tích các dạng thức cung tiến và động cơ bầu Hậu; khảo sát thành phần xã hội của ngôi vị Hậu (quan lại, quý tộc, thương nhân, nông dân, quan viên làng xã); thống kê tương quan giới tính (tỷ lệ nữ giới tham gia cung tiến và được tôn thờ chiếm tỷ lệ đáng kể); phân loại các điều khoản báo đáp, nghi thức tế tự và danh mục vật phẩm cúng tế (xôi, gà, trầu cau, rượu, hương đèn).
- Mối quan hệ với các hệ thống tín ngưỡng:
- Tín ngưỡng thờ Thần: Phân tích hiện tượng phối thờ Hậu Thần tại đình làng, miếu mạo; mối liên hệ giữa Thành hoàng làng và vị Hậu Thần.
- Phật giáo: Tục bầu Hậu Phật tại chùa làng; sự kết hợp giữa giáo lý bố thí, hồi hướng công đức của Phật giáo với nhu cầu duy trì hương hỏa đời đời.
- Nho giáo: Tục bầu Hậu Hiền tại văn chỉ, từ chỉ của hội Tư văn; vai trò của trật tự Nho giáo trong việc quản lý và thực thi giao ước bầu Hậu tại làng xã.
Chương 4: Văn bia Hậu tỉnh Thái Bình với vấn đề kinh tế
Chương 4 khai thác mảng dữ liệu kinh tế học lịch sử chứa đựng trong văn bia Hậu:
- Kinh tế ruộng đất: Phân tích bối cảnh ruộng đất thờ Hậu (hậu điền); hệ thống hóa thông tin về diện tích, nguồn gốc đất (ruộng tư cung tiến, ruộng làng bán cho Hậu); quy đổi đơn vị đo lường diện tích nông thôn Bắc Bộ về sào; thống kê biến động số lượng và giá trị ruộng Hậu qua các thời kỳ; phân loại các loại hình ruộng đất và mức thuế hoa lợi trích thu từ ruộng Hậu để phục vụ lễ tế.
- Kinh tế tiền tệ và giá trị hàng hóa: Phân loại các đơn vị tiền tệ ghi trên bia (thanh tiền, sử tiền, cổ tiền, tiền kẽm, bạc nén, đồng bạc Đông Dương); thiết lập công thức quy đổi giá trị bạc nén và các loại tiền tệ về quan sử tiền; thống kê tổng lượng tài sản cung tiến bằng tiền qua các thế kỷ; khảo sát mối tương quan giữa giá tiền mua ngôi vị Hậu với giá trị định mức của lễ vật báo đáp qua từng giai đoạn lịch sử.
+-----------------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG DỮ LIỆU VĂN BIA HẬU TỈNH THÁI BÌNH |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------+
| Tổng số mẫu nghiên cứu | 603 văn bia Hậu |
| Nguồn gốc tư liệu | 331 thác bản EFEO + 1327 thác bản VNCHN + 06 bia điền dã |
| Giới hạn thời gian | Năm 1586 (ST.01 Vô đề) đến năm 1980 (N°29681 Canh thân) |
| Không gian hành chính | Toàn bộ các huyện, thị thuộc tỉnh Thái Bình |
| Đơn vị chuẩn quy đổi kinh tế | Diện tích: Sào Bắc Bộ | Tiền tệ: Quan sử tiền |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------+
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận giải và xác lập chuẩn xác khái niệm "tục thờ cúng Hậu", phân biệt với khái niệm "tín ngưỡng thờ Hậu", làm rõ ranh giới học thuật giữa hình thức "bầu Hậu" và "ký kỵ/gửi giỗ".
- Xây dựng và vận dụng thành công Mô hình quan hệ cung tiến - báo đáp 4 bên (Bên công đức - Bên tiếp nhận - Bên sử dụng - Bên hưởng thụ thí báo), tạo khung lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội tham gia thực hành thờ Hậu.
- Dựng biểu đồ thời gian (Time chart) về tiến trình vận động, phát triển và biến đổi của tục thờ cúng Hậu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX.
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Đây là công trình đầu tiên khảo sát, thống kê và phân loại toàn diện 603 văn bia Hậu trên phạm vi trọn vẹn một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khai thác đồng thời cả nguồn thác bản EFEO, Viện Nghiên cứu Hán Nôm và tư liệu điền dã mới phát hiện.
- Xác lập niên đại bia Hậu sớm nhất của Thái Bình (năm 1586 tại chùa Nghinh Phúc, Quỳnh Phụ) và văn bia muộn nhất (năm 1980 tại Vũ Thư), kiểm chứng lại các nhận định trước đây của giới học thuật về thời điểm xuất hiện bia Hậu ở địa phương.
- Cung cấp chuỗi dữ liệu kinh tế định lượng có giá trị cao về giá ruộng đất, thuế hoa lợi, các loại tiền tệ và sức mua qua các thời kỳ lịch sử, đóng góp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của dự án quốc tế Vietnamica.
-
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp cơ sở khoa học lịch sử giúp các cơ quan quản lý văn hóa - tôn giáo hiểu rõ bản chất của các tập tục biến thể đương đại (như gửi giỗ, gửi tro cốt, ký gửi vong linh tại chùa - liên hệ từ sự kiện chùa Kỳ Quang 2 năm 2020), từ đó có chính sách ứng xử và quản lý phù hợp với thuần phong mỹ tục.
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn tại chỗ và số hóa hệ thống văn bia Hậu tại các di tích đình, chùa trên địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm tránh nguy cơ hư hại, thất lạc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Công tác sưu tầm Hán Nôm trước đây của Viện Nghiên cứu Hán Nôm tại Thái Bình mới bao phủ hơn 80% số xã phường, do đó vẫn còn gần 20% địa bàn chưa được điều tra toàn diện.
- Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên văn bia đá (văn khắc), trong khi các nguồn tư liệu thư tịch giấy liên quan (hương ước, khoán lệ, văn tế) ở nhiều làng xã đã bị thất lạc, hư hại qua thời gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng điền dã khảo sát tại gần 20% số xã phường còn lại trên địa bàn tỉnh Thái Bình để bổ sung các văn bia mới phát hiện vào tập mẫu.
- Mở rộng đối sánh dữ liệu định lượng (về giá ruộng, giá tiền, cơ cấu giới tính) giữa Thái Bình với các tỉnh lân cận thuộc vùng châu thổ sông Hồng (Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định) và kết nối vào mạng lưới dữ liệu chung của dự án Vietnamica.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Hán Nôm, Văn hiến học, Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Văn hóa học, Xã hội học và Nhân học; đặc biệt là phần phương pháp luận xử lý văn bản bi ký học và mô hình quan hệ cung tiến 4 bên.
- Nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế: Khai thác phần dữ liệu quy đổi diện tích ruộng Hậu, biến động tiền tệ (thanh tiền, sử tiền, bạc nén, đồng bạc Đông Dương) và thuế hoa lợi tại nông thôn truyền thống trong Chương 4.
- Cơ quan quản lý văn hóa và chính sách tôn giáo: Tham khảo các phân tích về sự chuyển hóa của tập tục gửi giỗ, gửi hương linh từ truyền thống sang hiện đại để xây dựng khung quản lý sinh hoạt tín ngưỡng tại các cơ sở thờ tự.
- Hệ thống phụ lục: Bộ danh mục 603 văn bia Hậu tỉnh Thái Bình, bảng đối chiếu ký hiệu trùng lặp, bản phiên dịch tuyển chọn và ảnh thác bản minh họa là nguồn tra cứu thực địa có giá trị lâu dài.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định tổng số lượng văn bia Hậu tại tỉnh Thái Bình là bao nhiêu và hình thành từ những nguồn tư liệu nào?
Luận án xác định tổng mẫu nghiên cứu là 603 văn bia Hậu. Bộ dữ liệu này được chọn lọc và xử lý từ 3 nguồn: 331 đơn vị thác bản do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) sưu tầm đầu thế kỷ XX; 1327 văn bia do Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm giai đoạn 1992–2008 (tại hơn 80% xã phường); và 06 văn bia do chính tác giả phát hiện qua điền dã thực tế.
2. Văn bia Hậu có niên đại sớm nhất và muộn nhất tại Thái Bình được ghi nhận trong luận án là những văn bia nào?
Văn bia Hậu sớm nhất là bia ký hiệu ST.01 Vô đề, tạo dựng năm Bính Tuất (1586) thời nhà Mạc tại chùa Nghinh Phúc, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ. Văn bia muộn nhất là bia ký hiệu N°29681 Canh thân niên bi ký (庚申年碑記), khắc năm Canh Thân (1980) tại thôn Mỹ Lộc, xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư.
3. Vì sao tác giả luận án sử dụng thuật ngữ "tục thờ cúng Hậu" thay vì "tín ngưỡng thờ Hậu"?
Tác giả phân tích: Khái niệm "tín ngưỡng" (belief) trong Tôn giáo học đòi hỏi niềm tin sâu sắc vào quyền năng siêu nhiên tuyệt đối của đối tượng được thờ phụng. Trong khi đó, việc thờ cúng Hậu dừng lại ở phương diện thực hành nghi lễ và đền đáp công đức ("cúng" vừa là dâng lễ phẩm tế tự, vừa là đóng góp công đức tiền của cho việc thiện). Người được bầu Hậu không phải là đối tượng siêu nhiên để sùng bái quyền năng, mà là người có công đức được cộng đồng nhớ ơn và giỗ chạp định kỳ.
4. Bốn chủ thể trong mô hình quan hệ cung tiến - báo đáp của tục thờ Hậu gồm những ai?
Mô hình 4 bên gồm:
- Bên công đức (A): Người bỏ tài sản cung tiến.
- Bên tiếp nhận công đức (B): Cộng đồng làng xã, hội đồng kỳ mục, người quản lý di tích.
- Bên sử dụng công đức (C): Cơ sở tín ngưỡng (đình, chùa, đền, miếu, từ đường, văn chỉ) hoặc công trình công cộng.
- Bên hưởng thụ thí báo (D): Người được nhận danh vị Hậu, được hưởng đãi ngộ khi sống và nhận hương khói tế giỗ sau khi qua đời.
5. Luận án thực hiện quy đổi dữ liệu kinh tế (ruộng đất, tiền tệ) trên văn bia theo những đơn vị chuẩn nào?
Để đồng nhất dữ liệu phục vụ thống kê định lượng và so sánh liên vùng trong dự án Vietnamica, toàn bộ diện tích ruộng đất thờ Hậu được tác giả quy đổi về đơn vị sào Bắc Bộ; các khoản tài sản bằng tiền tệ (thanh tiền, cổ tiền, bạc nén, đồng bạc Đông Dương) được quy đổi chuẩn hóa về đơn vị quan sử tiền.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu văn bia Hậu tỉnh Thái Bình" của NCS Bùi Quốc Linh là một công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện, xử lý khối lượng tư liệu gồm 603 văn bia Hậu trải dài từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp văn bản học, bi ký học Hán Nôm với lý thuyết tôn giáo học, nhân học và kinh tế học lịch sử, luận án đã làm rõ cấu trúc văn bản, đặc điểm danh vị, mạng lưới quan hệ cung tiến - báo đáp 4 bên cùng bức tranh sinh động về kinh tế ruộng đất và tiền tệ truyền thống. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cao cho các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tôn giáo và văn hiến Hán Nôm Việt Nam.