ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể gây tử vong ở ngƣời nếu không đƣợc điều trị kịp thời, tác nhân gây bệnh là Plasmodium, véc tơ truyền bệnh là muỗi Anopheles. Hiện nay, sốt rét vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu, theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2018 trên toàn thế giới có 228 triệu ngƣời mắc sốt rét, chủ yếu tại các nƣớc Châu Phi (chiếm 93%), Đông Nam Á (chiếm 3,4%) và Trung Đông (chiếm 2,1%). Số ngƣời chết do sốt rét khoảng 405.000 ngƣời, trong đó Châu Phi (chiếm 94%), còn lại là khu vực Đông Nam Á và Trung Đông [1]. Tại Việt Nam, mặc dù tình hình sốt rét có xu hƣớng giảm qua các năm, nhƣng tại một số khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng.
Theo thống kê của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ƣơng, năm 2011 số bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) là 16.612, có 14 trƣờng hợp tử vong [2].331 bệnh nhân nhiễm KSTSR, 3 trƣờng hợp tử vong [3].813 bệnh nhân nhiễm KSTSR, 1 trƣờng hợp tử vong [4]. Bệnh nhân có KSTSR đƣợc phát hiện chủ yếu ở ngƣời dân ngủ rừng, ngủ rẫy và đi lại qua biên giới. Bệnh sốt rét ở ngƣời đƣợc xác định do muỗi Anopheles truyền, Sinka et al (2012) đã thống kê trên thế giới có 465 loài Anopheles, trong đó có 41 loài là véc tơ sốt rét (VTSR) chính [5]. Ở mỗi khu vực khác nhau trên thế giới sự lan truyền sốt rét cũng có những đặc thù khác nhau.
Khu vực Đông Nam Á ngƣời nhiễm KSTSR chủ yếu có liên quan đến rừng, rẫy. Ở Việt Nam đến nay đã phát hiện đƣợc 64 loài muỗi Anopheles, trong đó có 3 VTSR chính là Anopheles (An. minimus và An. dirus là loài có chỉ số truyền sốt rét trong rừng, rẫy cao, nên những ngƣời thƣờng xuyên ngủ rừng, ngủ rẫy có nguy cơ nhiễm sốt rét cao hơn ngƣời làm việc khác.
Do đó, nghiên cứu thành phần loài muỗi Anopheles, phân bố và vai trò của VTSR sẽ góp phần cung cấp thông tin để lựa chọn các 2 biện pháp phòng chống véc tơ phù hợp, hiệu quả cho từng vùng. Từ năm 2011, Việt Nam triển khai Chiến lƣợc Phòng chống và Loại trừ sốt rét, đến nay đã đạt những thành tựu đáng kể, làm giảm tỷ lệ mắc và chết do sốt rét, không còn các vụ dịch lớn xảy ra. Tuy nhiên, hiện nay một số địa phƣơng thuộc Miền Trung vẫn còn những vùng sốt rét lƣu hành nặng, trong đó có xã Xuân Quang 1 và xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Tại hai xã này hàng năm Chƣơng trình Quốc gia vẫn triển khai phun tồn lƣu trong nhà, tẩm màn và phát màn tồn lƣu dài cho đối tƣợng ngủ rừng, ngủ rẫy nhƣng sốt rét vẫn tồn tại dai dẳng, một trong những nguyên nhân đƣợc cho là ngƣời dân có tập quán ngủ rừng, ngủ rẫy.
Trong rừng, rẫy muỗi An. dirus đốt mồi sớm thƣờng bắt đầu từ 18h - 19h, và đốt mồi cả trong nhà và ngoài nhà, khi ngƣời dân chƣa đi ngủ, do đó họ chƣa đƣợc bảo vệ bằng các biện pháp nhƣ phun tồn lƣu trong nhà hoặc tẩm màn. Nên ngoài các biện pháp phòng chống VTSR cho cộng đồng theo hƣớng dẫn của Chƣơng trình Quốc gia cần nghiên cứu thêm một số biện pháp bổ sung bảo vệ cá nhân nhƣ kem xoa xua muỗi, hƣơng xua diệt muỗi phòng chống VTSR để góp phần thúc đẩy công tác loại trừ sốt rét. Với lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, tập tính, vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles và hiệu lực của kem xua, hƣơng xua diệt muỗi NIMPE tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, 2017 - 2019” thực hiện với các mục tiêu: 1.
Xác định thành phần loài, phân bố, tập tính, vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles tại xã Xuân Quang 1 và xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, năm 2017. Đánh giá hiệu lực bảo vệ cá nhân và sự chấp nhận của cộng đồng với kem xoa xua muỗi NIMPE tại điểm nghiên cứu, năm 2018. Đánh giá hiệu lực bảo vệ cá nhân và sự chấp nhận của cộng đồng với hƣơng xua diệt muỗi NIMPE tại điểm nghiên cứu, năm 2019. Tình hình nghiên cứu về thành phần loài, phân bố véc tơ sốt rét 1.
Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố véc tơ sốt rét trên thế giới Họ muỗi Culicidae Meigen, 1818 (Diptera) có 3.528 loài, đƣợc chia thành 2 phân họ là Culicinae Meigen, 1818; Anophelinae Grassi, 1900. Phân họ Anophelinae đƣợc chia thành 3 giống là Anopheles Meigen, 1818; Bironella Theobald, 1905; Chagasia Cruz, 1906. Các loài muỗi có khả năng truyền sốt rét đều thuộc giống Anopheles [7]. Dựa vào những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới, đã xác định ở từng vùng địa lý có những loài muỗi Anopheles với khả năng truyền sốt rét ở những mức độ khác nhau, đƣợc phân chia thành các véc tơ chính và véc tơ phụ tùy theo khả năng truyền bệnh của chúng ở từng vùng.
Phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới (theo Sinka, 2012) [5] Sinka et al (2012) đã thống kê đƣợc 465 loài Anopheles trên thế giới, trong đó có khoảng 70 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở ngƣời, tác giả đã vẽ bản đồ phân bố 41 loài là VTSR chính (hình 1. 4 Trong số 41 VTSR chính trên thế giới, có 02 véc tơ chính là An. dirus và An. minimus, 01 véc tơ phụ là An.
maculatus phân bố ở vùng rừng núi Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã phát hiện 3 véc tơ này tại vùng rừng núi tỉnh Phú Yên. Trong phần tổng quan nghiên cứu này tập trung vào 3 VTSR là An. minimus và An. Thành phần, phân bố muỗi An.
dirus Peyton & Harrison, 1979 Hình 1. Phân bố muỗi An. dirus (theo Manguin, 2008) [8] Muỗi An. dirus sensu lato là phức hợp loài đồng hình.
Hiện nay bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (Polymerase Chain Reaction - PCR) đã xác định muỗi An. dirus là phức hợp gồm 7 loài. Phân bố các loài An. dirus nhƣ sau: Loài An.
dirus Peyton & Harrison, 1979 phát hiện ở các nƣớc Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc). cracens Sallum & Peyton, 2003 phát hiện ở Miền Nam Thái Lan, Malaysia, Indonesia. scanloni Sallum & Peyton, 2005 phát hiện ở Miền Nam Myanmar, Miền Tây và Miền Nam Thái Lan. baimaii Sallum & Peyton, 2005 phát hiện ở Tây Nam Trung Quốc, Tây Thái Lan, Myanmar, Bangladesh, Đông Bắc Ấn Độ.
5 elegans James, 1903 phát hiện ở Tây Nam Ấn Độ. nemophilous Peyton & Ramalingam, 1988 phát hiện ở bán đảo Thái Lan và Malaysia, biên giới Thái Lan, Myanmar và Campuchia. takasagoensis Morishita, 1946 phát hiện ở Đài Loan và Việt Nam (hình 1. dirus là loài sinh sản và phát triển gắn liền với sinh cảnh rừng nên thƣờng có mật độ trong rừng, rẫy cao hơn khu dân cƣ.
Somboon et al (1998), nghiên cứu tại Tây Bắc Thái Lan cho thấy muỗi An. dirus đốt ngƣời ở rẫy cao hơn ở khu dân cƣ, tỷ lệ muỗi đốt ngƣời tƣơng ứng là 7,3 và 1 [11]. Mật độ của muỗi An. dirus biến động theo mùa và liên quan đến lƣợng mƣa, nhiệt độ và độ ẩm.
Lƣợng mƣa trung bình khoảng 50 mm một tháng thích hợp nhất cho muỗi phát triển, nếu mƣa quá to sẽ phá hủy ổ đẻ của muỗi [10]. Sidavong et al (2004), nghiên cứu tại tỉnh Attapeu, Lào cho thấy mật độ muỗi An. dirus cao nhất vào tháng 8, do tháng 7 có lƣợng mƣa cao nhất [12]. Tananchai et al (2012), điều tra ở Tây Thái Lan cho thấy muỗi An.
dirus phát triển vào mùa mƣa từ tháng 7 đến tháng 11 và giảm vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 6 [13]. Thành phần, phân bố muỗi An. minimus Theobal, 1901 Hình 1. Phân bố muỗi An.
minimus sensu lato là phức hợp loài đồng hình. Hiện nay bằng kỹ thuật PCR đã xác định muỗi An. minimus là phức hợp gồm 3 loài. Phân bố các loài An.
minimus nhƣ sau: Loài An. minimus Theobald, 1901 phát hiện ở Bắc Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Nam Trung Quốc và Đài Loan. harrisoni Harbach & Manguin, 2007 phát hiện ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và Nam Trung Quốc. yaeyamaensis Somboon và Harbach, 2010 phát hiện ở đảo Ishigaki (Nhật Bản) (hình 1.
Somboon et al (1998), nghiên cứu tại Tây Bắc Thái Lan cho thấy muỗi An. minimus đốt ngƣời ở rẫy cao hơn ở khu dân cƣ, tỷ lệ muỗi đốt ngƣời tƣơng ứng là 2,3 và 1 [11]. minimus phát triển phụ thuộc vào lƣợng mƣa, nếu nƣớc mƣa lớn làm tăng dòng chảy cuốn trôi trứng và ổ bọ gậy nên mật độ muỗi giảm [16], [17]. Tainchun et al (2014), điều tra ở Tây Bắc Thái Lan cho thấy muỗi An.
minimus có mật độ cao nhất từ tháng 2 đến tháng 4 [18]. Chen et al (2017), nghiên cứu ở vùng biên giới Trung Quốc và Myanmar cho thấy mật độ muỗi An. minimus cao nhất vào tháng 6 đến tháng 8 [19]. Thành phần, phân bố muỗi An.
maculatus Theobal, 1901 Muỗi An. maculatus sensu lato là phức hợp loài đồng hình. Hiện nay bằng kỹ thuật PCR đã xác định muỗi An. maculatus là phức hợp gồm ít nhất 9 loài.
Phân bố muỗi An. maculatus (theo Manguin, 2008) [8] Phân bố các loài An. maculatus nhƣ sau: Loài An. maculatus Theobald, 1901 phát hiện ở Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Nepal, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam.
pseudowillmori Theobald, 1910 phát hiện ở Bắc Ấn Độ, Bắc Thái Lan và Nam Trung Quốc, Việt Nam. willmori James, 1903 phát hiện ở Afghanistan, Pakistan, Bắc Ấn Độ, Nepal, Nam Trung Quốc và Việt Nam. dravidicus Christophers, 1924 phát hiện ở Tây Nam Ấn Độ, Bắc Thái Lan, Tây Bắc Myanmar và Việt Nam. sawadwongporni Rattanarithikul & Green, 1986 phát hiện ở Nam Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
notanandai Rattanarithikul & Green, 1986 phát hiện ở Miền Tây Thái Lan và Việt Nam. greeni Rattanarithikul & Harbach, 1990; An. dispar Rattanarithikul & Harbach, 1990 phát hiện ở Philippines. rampae Harbach & Somboon, 2010 phát hiện ở Đông Bắc Thái Lan, Lào và Miền Trung Việt Nam (hình 1.
maculatus có mật độ ở rừng, rẫy thƣờng cao hơn khu dân cƣ. Somboon et al (1998), nghiên cứu tại Tây Bắc Thái Lan cho thấy muỗi An. 8 maculatus đốt ngƣời ở rẫy cao hơn ở khu dân cƣ, tỷ lệ muỗi đốt ngƣời tƣơng ứng là 3 và 1 [11]. maculatus có mặt quanh năm, đỉnh phát triển vào mùa mƣa.
Nghiên cứu của Muenworn et al (2009), ở Thái Lan cho thấy mật độ An. maculatus có liên quan đến lƣợng mƣa, vào mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 7 muỗi phát triển mạnh [22].