Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển của hệ thống làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm cho hơn 10 triệu lao động (chiếm gần 30% lực lượng lao động nông thôn) và gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất gia tăng về quy mô nhưng thiếu quy hoạch đồng bộ đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các vùng nông thôn, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe của cộng đồng dân cư. Các biện pháp quản lý theo phương thức mệnh lệnh và kiểm soát truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả thực thi, trong khi việc ứng dụng các công cụ kinh tế trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề vẫn còn phân tán và chưa được khai thác đúng mức.
Văn bản xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay.
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ kinh tế và cơ chế áp dụng trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các làng nghề truyền thống tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ (tiêu biểu như Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Nam Định, Hải Dương...).
- Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng công nghệ sản xuất, đất đai, mức độ phát thải ô nhiễm và hiện trạng thực thi chính sách môi trường tại các làng nghề giai đoạn 2000–2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng kinh tế học môi trường và quản trị học công:
- Khái niệm quản lý môi trường: Sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý lên cá nhân, cộng đồng hoạt động phát triển nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, phòng ngừa suy thoái và hướng tới phát triển bền vững (với 10 nội dung quản lý nhà nước cấp vĩ mô và 6 nguyên tắc chỉ đạo: tính hệ thống, tính tổng hợp, tập trung dân chủ, kết hợp ngành - lãnh thổ, hài hòa lợi ích, tiết kiệm và hiệu quả).
- Lý thuyết công cụ kinh tế: Hoạt động thông qua tín hiệu giá cả và cơ chế thị trường nhằm nội hóa các chi phí ngoại ứng tiêu cực; đối chiếu với công cụ Mệnh lệnh và kiểm soát (CAC - Command and Control).
- Nguyên tắc nền tảng:
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP - Polluter Pays Principle): Khởi xướng bởi OECD (1972, bản mở rộng 1974) dựa trên lý thuyết kinh tế phúc lợi và ngoại ứng của Arthur Cecil Pigou, buộc chủ nguồn thải phải chịu chi phí kiểm soát ô nhiễm và bồi thường thiệt hại xã hội.
- Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (BPP - Beneficiary Pays Principle): Cơ chế huy động đóng góp tài chính từ các đối tượng hưởng lợi từ môi trường trong sạch để bù đắp chi phí phục hồi và cải thiện môi trường.
- Các công cụ kinh tế cụ thể được định danh:
- Thuế tài nguyên: Thuế sử dụng đất và thuế tài nguyên khoáng sản (xác định theo công thức $T = M \cdot G \cdot X$ quy định tại Điều 34 Luật Khoáng sản năm 1999).
- Côta gây ô nhiễm (giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng - Tradable discharge permits).
- Phí dịch vụ môi trường: Phí cấp nước sạch - xử lý nước thải, phí thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn.
- Hệ thống đặt cọc - hoàn trả (Deposit-refund system).
- Phí môi trường: Thu theo nguồn thải, theo đầu vào nguyên liệu hoặc theo sản phẩm cuối cùng.
- Khung pháp lý tham chiếu: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Nghị quyết số 41-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị; Quyết định số 132/QĐ-TTg năm 2000; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phân tích lý luận, tổng hợp tài liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu số liệu từ các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức quốc tế.
Nguồn dữ liệu bao gồm: Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; khảo sát của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Bộ Nông nghiệp & PTNT (2002); nghiên cứu của GS. Đặng Kim Chi (2005); số liệu từ Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2009); Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội); Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 của Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường làng nghề truyền thống
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm làng nghề và đưa ra 3 tiêu chí phân loại cơ bản: tỷ lệ hộ/lao động làm nghề đạt tối thiểu 30%; tỷ lệ thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập; hoạt động sản xuất ổn định liên tục tối thiểu 5 năm (hoặc tối thiểu 2 năm theo Thông tư 116/2006/TT-BNN).
| Nguồn thống kê |
Thời điểm |
Số lượng làng nghề trên cả nước |
| JICA và Bộ Nông nghiệp & PTNT |
2002 |
2.017 |
| Viện Chiến lược và Chính sách (Bộ KH&CN) |
- |
1.450 |
| Bộ Công nghiệp |
2004 |
1.502 |
| Tổng cục Thống kê (Điều tra nông nghiệp, nông thôn) |
2006 |
1.077 |
Thực trạng phát triển kinh tế và kỹ thuật tại các làng nghề được ghi nhận:
- Tổng giá trị sản lượng năm 2000 đạt khoảng 40.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 7–9%/năm (tốc độ tăng trưởng sản xuất CN-TTCN đạt 21–25%/năm theo số liệu năm 2009). Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng từ 235 triệu USD (2001) lên 600 triệu USD (2006) và vượt 800 triệu USD (2008). Giá trị hàng hóa năm 2000 tại một số địa phương: Hà Tây đạt 1.045 tỷ đồng, Hải Dương đạt 637 tỷ đồng, Nam Định đạt 224 tỷ đồng, Bắc Ninh đạt 210 tỷ đồng.
- Trình độ công nghệ: Trên 60% cơ sở sử dụng công nghệ thủ công và bán cơ khí, thiết bị chắp vá, lạc hậu; mức độ tự động hóa hoàn toàn bằng 0%.
| Ngành nghề |
Thủ công và bán cơ khí (%) |
Tự động hóa (%) |
| Chế biến nông - lâm - thủy sản |
61,56 |
0 |
| Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng |
Chiếm đa số |
0 |
| Các ngành dịch vụ khác |
Chiếm đa số |
0 |
- Cơ sở hạ tầng và nguồn lực: Nhà xưởng kiên cố chỉ đạt 10–30%; tỷ lệ đường giao thông đạt chuẩn khoảng 20%; 60% hộ sử dụng nước giếng khoan/mưa/khơi. Về năng lực quản trị, 1,3–1,6% chủ hộ không biết chữ; 51,5–69,89% chủ hộ và trên 43% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo quản lý; 80% làng nghề thiếu vốn nhưng dưới 10% tiếp cận được vốn vay nhà nước (theo JICA).
- Quy hoạch không gian môi trường làng nghề tại một số địa phương:
| Tỉnh / Thành phố |
Số làng nghề hiện có |
Số làng nghề đã có quy hoạch (đến 2003) |
Số làng nghề dự kiến quy hoạch (đến 2010) |
| Hà Tây |
280 |
63 |
150 |
| Thái Bình |
187 |
11 |
22 |
| Thanh Hóa |
127 |
2 |
- |
| Bắc Ninh |
59 |
55 |
11 |
| Hà Nội |
48 |
14 |
40 |
| Hưng Yên |
48 |
1 |
10 |
| Quảng Nam |
18 |
12 |
17 |
| Đà Nẵng |
10 |
0 |
1 |
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)
Về hiện trạng ô nhiễm (theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2008 khảo sát 52 làng nghề): 46% làng nghề ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng (nước, khí, rác thải), 27% ô nhiễm vừa, 27% ô nhiễm nhẹ. Người lao động đối mặt với rủi ro: 95% do bụi, 85,9% do nhiệt, 59,6% do hóa chất. 100% mẫu nước thải khảo sát vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP).
Hà Nội (sau mở rộng năm 2008) có 1.275 làng nghề (226 làng nghề được công nhận), gồm 135 làng thủ công mỹ nghệ (53%), 59 làng dệt nhuộm da (23%), 43 làng chế biến lương thực thực phẩm (16,9%), xả trực tiếp nước thải chưa xử lý ra sông Nhuệ, sông Đáy. Sự cố ô nhiễm sông Nhuệ năm 2009 làm cá chết kéo dài 7 km (đoạn Mễ Trì - Hà Đông); năm 2010 gây chết cá hàng loạt trên sông Châu Giang (Hà Nam). Làng nghề tái chế nhôm Văn Môn (sử dụng 8.000 tấn phế liệu/năm) và sắt thép Châu Khê (cung cấp 200.000 tấn thép/năm) tại Bắc Ninh khiến hàm lượng chì và asen trong lúa gạo cao hơn 1,5–2 lần bình thường. Tỷ lệ mắc bệnh tại làng nghề kim loại chiếm tới 60% dân số; bệnh nghề nghiệp tại làng Dương Liễu chiếm 70%, làng bún Phú Đô chiếm 50%; tuổi thọ bình quân người dân làng nghề giảm 10 năm so với làng thuần nông.
Chương 2: Thực trạng quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống và việc áp dụng công cụ kinh tế hiện nay
Chương 2 phân tích các nút thắt trong công tác quản lý nhà nước và áp dụng công cụ kinh tế:
- Bất cập quy hoạch và quản lý đất đai: Do tận dụng đất ở làm xưởng sản xuất, mặt bằng bị chia nhỏ, gây ô nhiễm trực tiếp trong khu dân cư; phát sinh hiện tượng lấn chiếm đất công cộng, kênh mương. Khi triển khai các cụm công nghiệp làng nghề (như tại Đồng Kỵ - Bắc Ninh), phát sinh tình trạng biến tướng thành khu dân cư đô thị mới (nhà ở 3-4 tầng), làm phân tán nguồn lực và tiếp tục lan truyền ô nhiễm. Cơ chế bàn giao đất tại Phong Khê, Đa Hội (Bắc Ninh), An Khánh (Hà Tây cũ) thiếu đồng bộ về hạ tầng cấp thoát nước, xử lý chất thải khiến các hộ nhỏ lẻ không đủ khả năng tài chính để di dời.
- Hệ thống văn bản pháp luật: Quy định còn thiếu chi tiết, phân tán giữa các bộ ngành; việc thực thi chế tài xử phạt hành chính chưa nghiêm.
- Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế: Việc áp dụng thuế, phí môi trường đối với làng nghề còn rất hạn chế do thiếu hệ thống quan trắc, khó xác định chính xác lưu lượng và nồng độ chất thải tại từng hộ gia đình. Chi phí đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm chiếm từ 5–25% tổng kinh phí đầu tư của cơ sở sản xuất, dẫn tới việc các hộ chọn giải pháp xả thải trực tiếp để tối thiểu hóa chi phí ngắn hạn.
Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống
Chương 3 xây dựng các nhóm giải pháp dựa trên 3 căn cứ cấp thiết: đòi hỏi nội tại từ thực trạng làng nghề, cơ sở pháp lý tại Việt Nam và xu thế quản lý môi trường quốc tế:
- Nhóm giải pháp có tính chiến lược: Hoàn thiện khung khổ pháp luật về công cụ kinh tế; thiết lập cơ chế cấp phép và chuyển nhượng quyền xả thải phù hợp với quy mô làng nghề; kết hợp chính sách thuế tài nguyên nhằm hạn chế thất thoát nguyên liệu thô.
- Nhóm giải pháp cần giải quyết trước mắt: Triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và chất thải rắn tại các làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng; thực hiện các chính sách ưu đãi tài chính, trợ giá hoặc miễn giảm thuế cho các cơ sở đầu tư dây chuyền sản xuất sạch hơn và di dời vào cụm công nghiệp tập trung.
- Nhóm giải pháp quản lý và phối hợp sự tham gia của cộng đồng: Đẩy mạnh áp dụng nguyên tắc BPP và PPP thông qua các quỹ môi trường địa phương, phát huy vai trò của hương ước, quy ước làng nghề và cơ chế giám sát cộng đồng trong việc kiểm soát xả thải.
- Các giải pháp hỗ trợ khác: Tăng cường đào tạo kiến thức quản lý môi trường cho chủ hộ/chủ doanh nghiệp; chuẩn hóa công tác quy hoạch mặt bằng sản xuất tách rời khu dân cư gắn với đầu tư hạ tầng kỹ thuật môi trường đồng bộ.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu: Luận văn đã lượng hóa toàn diện bức tranh kỹ thuật và ô nhiễm tại làng nghề truyền thống Việt Nam: trên 60% công nghệ ở mức thủ công/bán cơ khí; 46% làng nghề ô nhiễm nặng trên cả 3 phương diện; 100% mẫu nước thải khảo sát vượt TCCP; tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở các điểm nóng (Dương Liễu, Phú Đô) từ 50–70%.
- Giải pháp đề xuất: Đưa ra hệ thống giải pháp phân tầng (chiến lược dài hạn, giải pháp cấp bách trước mắt, giải pháp xã hội hóa cộng đồng) nhằm lồng ghép các công cụ kinh tế (thuế tài nguyên, phí xả thải, ký quỹ hoàn trả, ưu đãi tín dụng) vào quản lý môi trường làng nghề.
- Đóng góp của tác giả: Phân tích rõ tính ưu việt của công cụ kinh tế so với phương thức mệnh lệnh - kiểm soát trong điều kiện sản xuất phân tán quy mô hộ gia đình; chỉ ra các nguyên nhân thất bại trong việc di dời làng nghề vào các cụm công nghiệp tập trung tại vùng đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2000–2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các dữ liệu khảo sát và ví dụ điển hình tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây cũ); các mô hình công cụ kinh tế (như côta xả thải chuyển nhượng) mới dừng lại ở việc lập luận nguyên lý và ví dụ minh họa lý thuyết, chưa có mô hình tính toán lượng hóa mức phí chi tiết cho từng loại hình làng nghề riêng biệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu thực nghiệm mô hình định giá phí xả thải và cơ chế ký quỹ phục hồi môi trường đối với từng nhóm ngành nghề cụ thể (tái chế kim loại, chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm); mở rộng khảo sát đánh giá tại các làng nghề khu vực miền Trung và miền Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Quản lý môi trường, Kinh tế môi trường, Quản lý tài nguyên, Phát triển nông thôn và Quy hoạch đô thị - nông thôn.
- Nội dung đáng giá:
- Phương pháp luận phân tích và so sánh giữa hai nguyên tắc kinh tế môi trường PPP và BPP.
- Công thức tính toán thuế tài nguyên khoáng sản theo Điều 34 Luật Khoáng sản 1999.
- Bộ số liệu lịch sử về thực trạng công nghệ, tình hình ô nhiễm và số liệu quy hoạch làng nghề tại các tỉnh thành đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2000–2010.
Câu hỏi thường gặp
1. Ba tiêu chí cơ bản để xác định một làng nghề được văn bản tổng hợp là gì?
Theo văn bản, việc xác định làng nghề căn cứ vào 3 tiêu chí:
- Tỷ lệ số hộ (hoặc lao động) làm nghề đạt từ 30% trở lên so với tổng số hộ (hoặc lao động) của làng.
- Tỷ lệ thu nhập từ nghề trong tổng thu nhập của làng đạt từ 50% trở lên.
- Hoạt động sản xuất đạt các tiêu chí trên phải ổn định liên tục ít nhất 5 năm (theo Thông tư 116/2006/TT-BNN là ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận).
2. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Việt Nam được ghi nhận với các số liệu nào?
Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2008 khảo sát 52 làng nghề: 46% bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng (nước, khí, rác thải), 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ. 95% lao động tiếp xúc rủi ro từ bụi, 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất. 100% mẫu nước thải khảo sát vượt tiêu chuẩn cho phép. Tuổi thọ trung bình người dân làng nghề thấp hơn 10 năm so với làng thuần nông; tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp tại làng Dương Liễu là 70%, làng bún Phú Đô là 50%.
3. Tại sao mô hình di dời làng nghề ra khu quy hoạch tập trung tại Đồng Kỵ (Bắc Ninh) lại bộc lộ bất cập?
Tại khu công nghiệp Đồng Kỵ, khi di dời, các hộ sản xuất di chuyển cả gia đình ra khu quy hoạch và xây dựng các nhà ở kiên cố 3-4 tầng kết hợp sinh hoạt, khiến khu công nghiệp biến thành khu dãn dân và mở rộng diện tích ô nhiễm. Đồng thời, do cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm xây dựng hạ tầng, các cơ sở nhỏ gặp khó khăn tài chính nên tiếp tục ở lại sản xuất trong khu dân cư cũ.
4. Thuế tài nguyên khoáng sản được xác định bằng công thức nào trong văn bản?
Thuế tài nguyên khoáng sản được xác định theo Điều 34 Luật Khoáng sản 1999 qua công thức:
$$T = M \cdot G \cdot X$$
Trong đó: $T$ là tiền thuế doanh nghiệp phải nộp; $M$ là sản lượng khoáng sản khai thác được; $G$ là giá bán khoáng sản thương phẩm; $X$ là thuế suất.
5. Những hạn chế chính về năng lực quản lý và tài chính của các hộ làng nghề là gì?
Có từ 1,3–1,6% chủ cơ sở không biết chữ; trình độ học vấn bình quân đạt lớp 7–8/12; tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5–69,89% và ở các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43%. Ngoài ra, 80% làng nghề thiếu vốn sản xuất và dưới 10% người sản xuất tiếp cận được hệ thống tài chính của Nhà nước do thủ tục vay phức tạp (theo JICA).
Kết luận
Luận văn đã làm rõ cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc sử dụng công cụ kinh tế trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Dựa trên việc phân tích thực trạng công nghệ lạc hậu, tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng và những bất cập trong quy hoạch đất đai, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa công cụ kinh tế, công cụ quản lý hành chính và sự tham gia của cộng đồng. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách môi trường làng nghề hướng tới mục tiêu phát triển nông thôn bền vững.