Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số tại khu vực nông thôn Việt Nam đang tạo ra áp lực lớn đối với môi trường sinh thái. Theo số liệu từ Tổng cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012, chất thải rắn tại khu vực nông thôn phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, chợ, trường học, trạm y tế và cơ quan hành chính với khối lượng ước tính khoảng 18,21 tấn/ngày. Trong đó, chất thải hữu cơ dễ phân hủy chiếm tới 65%, phần còn lại là các chất thải khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh. Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn chỉ đạt mức 40% đến 55%, tình trạng không phân loại rác tại nguồn và xả rác bừa bãi ra kênh mương, đường làng diễn ra phổ biến.
Tại xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, tình trạng ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các nguyên nhân thực tiễn:
- Dân số địa phương gia tăng nhanh chóng: Năm 2014, dân số toàn xã là 6.658 người với khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là 778,10 tấn/năm; đến năm 2016, dân số tăng lên 6.747 người kéo theo lượng chất thải rắn sinh hoạt đạt 1.178,80 tấn/năm.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng khối lượng lớn phân bón hóa học (NPK, phân Urea, Supe Lân) bón liều lượng cao làm đất bạc màu, thoái hóa và tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cho người dân.
- Ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn mang nặng nếp sống "sạch nhà, bẩn ngõ", chỉ chú trọng dọn rác ra khỏi nhà mà chưa quan tâm đến nơi tiếp nhận và quy trình xử lý.
- Công tác quản lý môi trường của chính quyền xã chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch dài hạn và chưa áp dụng các công nghệ xử lý tiên tiến như ủ sinh học chất hữu cơ thành phân vi sinh.
Từ thực tế trên, đề tài khóa luận cử nhân ngành Khoa học Môi trường của tác giả Bùi Thị Mỹ Hạnh (Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm Nghiệp) được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn về khả năng xử lý chất thải rắn nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang.
- Xác định sự ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến chất lượng môi trường và cuộc sống của người dân địa phương.
- Đánh giá hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang áp dụng tại xã Thái Giang.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động của cộng đồng dân cư và các điểm công cộng trên địa bàn.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ ranh giới hành chính xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (với diện tích 6,36 km², quy mô dân số điều tra khoảng 5.125 người trên tổng số 6.511 người theo thống kê hộ tịch năm 2014).
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực nghiệm ngoại nghiệp được thu thập tập trung vào tháng 4 năm 2017 (chuỗi quan trắc cân rác kéo dài 7 ngày liên tục từ ngày 03/04/2017).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận cơ sở lý thuyết thông qua việc phân loại chất thải rắn theo vị trí phát sinh, tính chất vật lý - hóa học, mức độ nguy hại và đặc tính phân hủy sinh học. Về mặt quản lý, tác giả phân tích cơ cấu quản lý chất thải rắn theo phân cấp hành chính tại Việt Nam: Cấp Trung ương (vai trò điều phối của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) và cấp địa phương (Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông Vận tải, Ủy ban nhân dân quận/huyện và Công ty Môi trường đô thị). Tác giả cũng tổng hợp các phương pháp xử lý rác thải phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam, bao gồm: chôn lấp hợp vệ sinh (tiêu biểu như bãi rác Nam Sơn tiếp nhận 3.000 tấn/ngày), chế biến phân hữu cơ vi sinh (tiêu biểu như Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn và Nhà máy phế thải Việt Trì), thiêu đốt và tái chế (tại các làng nghề như Chỉ Đạo, Minh Khai, Đông Mẫu). Đồng thời, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chất thải rắn của Nhật Bản (Luật Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế 1992, Luật Xúc tiến thu gom, phân loại, tái chế bao bì 1997, phân loại rác theo màu túi) và Singapore (thành lập Đơn vị chống ô nhiễm APU 1972, Bộ Môi trường ENV 1972, bãi chôn lấp ngoài khơi Semakau 350 ha với chi phí 447 triệu USD, áp dụng mô hình 3R: Reduce - Reuse - Recycle).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế kết hợp giữa điều tra ngoại nghiệp và xử lý nội nghiệp:
- Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập các văn bản báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu nhân khẩu từ Ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình xã Thái Giang năm 2014, báo cáo tổng kết hạ tầng năm 2015 của Phòng Địa chính - Môi trường, bản đồ ranh giới hành chính xã.
- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:
- Khảo sát thực địa: Đánh giá hiện trạng 12 bãi rác lộ thiên, 2 nhà chứa rác tại thôn Phất Lộc Đông và Phất Lộc Tiến, các điểm tồn đọng rác và tuyến vận chuyển trên địa bàn.
- Phương pháp phỏng vấn: Xây dựng bộ câu hỏi lựa chọn và trả lời ngắn, phỏng vấn trực tiếp 30 hộ dân theo 6 tuyến điều tra: Tuyến 1 (xóm 5 gồm 2 hộ nông nghiệp, 2 hộ kinh doanh, 1 hộ cán bộ); Tuyến 2 đến Tuyến 5 (mỗi xóm gồm 1 hộ nông nghiệp, 1 hộ kinh doanh, 1 hộ cán bộ); Tuyến 6 (khu vực hành chính và công cộng gồm 2 phiếu tại UBND xã, 2 phiếu trường THCS, 2 phiếu trường tiểu học, 2 phiếu tại chợ và trường mầm non).
- Phương pháp phân loại và cân rác thải: Chọn mẫu 50 hộ gia đình thuộc các thành phần kinh tế (nông nghiệp, kinh doanh, cán bộ) để thu gom rác vào thùng được cấp phát và tiến hành cân khối lượng liên tục trong 7 ngày trong tuần. Rác thải được tách thành 4 nhóm: Rác hữu cơ dễ phân hủy, Rác tái chế (giấy, nhựa, kim loại, túi nilon), Rác vô cơ (tro, xỉ, sành sứ, đất cát) và Rác nguy hại (pin, thuốc quá hạn). Đồng thời, tiến hành cân đo tại 7 điểm công cộng (UBND, chợ, trạm y tế, trường học) với tổng số 1.640 lượt người/ngày.
- Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel và Word để thống kê mô tả, tính toán khối lượng rác bình quân trên đầu người, xác định tỷ lệ thành phần phần trăm và lập biểu đồ biểu diễn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương I hệ thống hóa khái niệm chất thải rắn sinh hoạt, phân tích nguồn gốc phát sinh và phân loại theo tính chất lý - hóa học, khu vực phát sinh (đô thị, nông thôn) và mức độ nguy hại. Tác giả trình bày các tác động tiêu cực của chất thải rắn đến các thành phần môi trường:
- Môi trường nước: Rác thải đổ trực tiếp hoặc rò rỉ nước rác gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Bảng số liệu đối chiếu tính chất nước rác cho thấy bãi chôn lấp mới (< 2 năm) có nồng độ ô nhiễm cao (BOD5 dao động 2.000 - 20.000 mg/L; COD dao động 3.000 - 60.000 mg/L; TSS từ 200 - 2.000 mg/L; NH3 từ 10 - 800 mg/L), vượt trội so với bãi chôn lấp lâu năm (> 10 năm có BOD5 từ 100 - 200 mg/L; COD từ 100 - 500 mg/L).
- Môi trường không khí và đất: Quá trình phân hủy kỵ khí phát tán các khí độc hại và mùi hôi thối như SO2, CO, CO2, H2S, CH4; rác vô cơ và nilon tồn lưu làm biến đổi cấu trúc thổ nhưỡng, giảm độ xốp và ức chế hệ vi sinh vật đất.
- Sức khỏe cộng đồng: Nguy cơ lây truyền mầm bệnh dịch hạch, thương hàn, sốt rét, tiêu chảy từ các loài côn trùng trung gian truyền bệnh tại bãi rác.
Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm phân loại và tái chế rác tại Nhật Bản, chính sách 3R và bãi rác Semakau tại Singapore; phân tích hiện trạng các cơ sở xử lý tại Việt Nam như bãi rác Nam Sơn tiếp nhận 3.000 tấn rác/ngày, nhà máy phân vi sinh Cầu Diễn, Phú Thọ và những bất cập ô nhiễm môi trường tại các làng nghề tái chế nhựa, giấy (Minh Khai, Đông Mẫu, Dương Ổ).
Chương II: Mục tiêu - Đối tượng - Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu:
- Thiết lập hệ thống mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể; giới hạn đối tượng nghiên cứu là rác thải phát sinh từ sinh hoạt cộng đồng tại xã Thái Giang với quy mô dân số khảo sát 5.125 người.
- Mô tả quy trình điều tra ngoại nghiệp bao gồm: thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn xã hội học môi trường cho 30 hộ dân và 7 cơ quan công cộng; thiết lập quy chuẩn phân loại rác thành 4 hợp phần tại 50 hộ gia đình; quy trình sử dụng cân đồng hồ để xác định khối lượng rác thải hàng ngày liên tục trong 7 ngày từ 03/04/2017.
- Quy định kỹ thuật mã hóa và tính toán số liệu trên phần mềm Microsoft Excel để xác định các chỉ tiêu: lượng phát sinh trung bình trên đầu người (kg/người/ngày), tỷ trọng phát sinh theo nguồn thải (%) và cơ cấu thành phần vật lý của rác thải sinh hoạt nông thôn.
Chương III: Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Chương III phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý rác thải của xã Thái Giang:
- Điều kiện tự nhiên: Xã nằm ở phía Đông Nam huyện Thái Thụy, diện tích 6,36 km²; địa hình đồng bằng châu thổ sông Hồng bằng phẳng, độ dốc < 1%, độ cao phổ biến 1 - 2 m so với mực nước biển. Đất đai chủ yếu là đất phù sa màu mỡ (thịt nhẹ, thịt trung bình). Khí hậu cận nhiệt đới ẩm: nhiệt độ trung bình mùa hè 27 - 28°C (cao nhất 28,5°C), mùa đông 14 - 17°C (thấp nhất 15,5°C); lượng mưa trung bình 1.500 - 2.250 mm/năm; độ ẩm trung bình trên 80% (tháng 8 đạt 87 - 89%). Hệ thống sông ngòi dày đặc là các chi lưu của hệ thống sông Thái Bình trước khi đổ ra biển, khiến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt từ bãi rác tăng cao.
- Điều kiện kinh tế: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2010 - 2015 đạt bình quân 7,84%/năm (nông nghiệp tăng 3,14%, công nghiệp tăng 9,47%, dịch vụ tăng 8,x%). Nông nghiệp chuyển đổi mạnh sang lúa ngắn ngày chất lượng cao; chăn nuôi có hơn 300 hộ xây dựng hầm biogas. Tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chiếm 51% giá trị sản xuất với 14 ngành nghề, 7 doanh nghiệp tiêu biểu (nhà máy gạch giải quyết việc làm cho hơn 300 lao động).
- Điều kiện văn hóa - xã hội và cơ sở hạ tầng: Dân số năm 2014 gồm 2.030 hộ với 6.511 nhân khẩu phân bố tại 10 thôn (nam: 3.499 người, nữ: 3.012 người; độ tuổi 25 - 49 chiếm tỷ trọng lớn nhất với 3.163 người). Toàn bộ 50 km đường giao thông nông thôn đã được bê tông hóa (7 km đường liên xã rộng > 5 m, 20 km đường liên thôn rộng 3,5 - 5 m, trên 20 km đường nội đồng rộng < 3,5 m); hệ thống kênh mương tưới tiêu trên 30 km; có 3 trường học (trường THCS đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1 năm 2010), 1 trạm y tế mới xây năm 2011 và 10 nhà văn hóa thôn.
Chương IV: Kết quả nghiên cứu
Chương IV trình bày số liệu định lượng thực nghiệm thu thập tại xã Thái Giang:
- Hiện trạng thu gom và tồn đọng: Toàn xã có 12 bãi rác tự phát lớn nhỏ không theo quy hoạch; các hố rác đào tạm bợ, hố nông, không đắp bờ bao chống sụt lún, đáy không lót màng chống thấm và bề mặt không phủ đất khiến nước rỉ rác ngấm thẳng vào đất và nước tràn khi mưa lớn. Năm 2013, xã xây 2 nhà chứa rác tại thôn Phất Lộc Đông và Phất Lộc Tiến nhưng người dân tiện tay vứt rác tràn lan bên ngoài tường bao. 65,33% người dân phỏng vấn than phiền về mùi hôi bãi rác; 80% khẳng định bãi rác gây ô nhiễm đất, nước và kiến nghị quy hoạch bãi chôn lấp hợp vệ sinh (đa số đồng thuận chỉ cần 2 bãi tập kết tập trung).
- Khối lượng và nguồn phát sinh: Khu dân cư là nguồn thải chính chiếm 75,38% số lượng nguồn thải, chợ chiếm 17%, trường THCS chiếm 4%, trạm y tế 2%, hợp tác xã 2%. Xét về khối lượng, khu dân cư tạo ra 93% tổng lượng rác toàn xã, các khu công cộng chiếm 7%. Kết quả cân đo 7 ngày cho thấy:
- Lượng rác sinh hoạt khu dân cư phát sinh trung bình: 0,56 kg/người/ngày.
- Lượng rác tại các điểm công cộng phát sinh trung bình: 0,030 kg/người/ngày (cơ quan hành chính, trường tiểu học, THCS phát sinh ít và đều; chợ và trường mầm non phát sinh lượng rác vượt trội do tổ chức ăn bán trú và hoạt động sơ chế hàng hóa).
- Thành phần rác thải: Hợp phần hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ áp đảo với 50%; chất hữu cơ có thể tái chế (túi nilon, đồ nhựa, giấy vụn) chiếm 28%; chất vô cơ (xỉ than, đất cát, sành sứ vỡ) chiếm 17,2%; thành phần khác và rác nguy hại chiếm 4,8%. 100% hộ dân chưa thực hiện phân loại rác trước khi thu gom, dù 83% hộ đã tự thực hiện xử lý sơ bộ thủ công (đốt lá cây, giấy hoặc bán phế liệu nhựa).
- Đánh giá ô nhiễm môi trường: Nước mặt quanh bãi tập kết có màu đen đặc, bốc mùi hôi thối nồng nặc; môi trường không khí bị ô nhiễm mùi khó chịu trong bán kính 30 m quanh bãi rác (đặc biệt vào mùa nắng nóng có gió hoặc mùa xuân mưa phùn ẩm ướt). Nguồn nước ngầm sinh hoạt chưa bị ảnh hưởng do bãi rác nằm xa khu dân cư và 100% hộ đã tiếp cận nước sạch. Nilon khó phân hủy làm bí chặt đất canh tác lân cận.
- Đề xuất giải pháp: Tác giả xây dựng 5 nhóm giải pháp hoàn chỉnh: (1) Giáo dục và truyền thông môi trường; (2) Giảm thiểu rác thải bằng các công cụ hỗ trợ; (3) Giảm thiểu, phân loại và xử lý sơ bộ tại nguồn; (4) Thu gom và xử lý rác theo phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh (thiết kế đáy chống thấm, phủ đất hàng ngày); (5) Giảm thiểu và xử lý chất thải hữu cơ bằng phương pháp ủ phân vi sinh (compost).
Kết quả và đóng góp
Dữ liệu định lượng thực nghiệm
Các kết quả điều tra thực nghiệm về nguồn phát sinh, khối lượng, tỷ lệ thu gom và thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang được tổng hợp chi tiết qua các bảng số liệu sau:
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn tại xã Thái Giang năm 2016
| Nguồn phát sinh |
Tỷ lệ cơ cấu nguồn thải (%) |
Tỷ trọng khối lượng phát sinh (%) |
| Khu dân cư (10 thôn) |
75,38 |
93,00 |
| Chợ dân sinh |
17,00 |
- |
| Trường THCS |
4,00 |
- |
| Trạm y tế |
2,00 |
- |
| Hợp tác xã |
2,00 |
- |
| Các khu vực công cộng cộng gộp |
- |
7,00 |
| Tổng cộng |
100,0 |
100,0 |
Diễn biến tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang
| Năm thống kê |
Tỷ lệ rác được thu gom (%) |
Tỷ lệ rác không được thu gom (%) |
| 2007 |
10,0 |
90,0 |
| 2009 |
60,0 |
40,0 |
| 2013 |
85,0 |
15,0 |
Thành phần cơ lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang năm 2017
| STT |
Thành phần rác thải |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
| 1 |
Chất hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, rau củ quả, cành lá hoa) |
50,0 |
| 2 |
Chất hữu cơ có thể tái chế (túi nilon, đồ nhựa, giấy, vỏ hộp, kim loại) |
28,0 |
| 3 |
Chất vô cơ (đất, cát, xỉ than, sành sứ vỡ) |
17,2 |
| 4 |
Thành phần khác (chất thải nguy hại như pin, hóa chất quá hạn) |
4,8 |
| Tổng |
|
100,0 |
Về định mức phát thải, nghiên cứu xác định hệ số phát thải bình quân của người dân nông thôn xã Thái Giang là 0,56 kg/người/ngày tại hộ gia đình và 0,030 kg/người/ngày tại các khu vực công cộng.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức: Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào quy ước làng văn hóa, lồng ghép giáo dục môi trường trong trường học; chấm dứt tình trạng vứt rác tùy tiện bên ngoài nhà chứa rác tại thôn Phất Lộc Đông và Phất Lộc Tiến.
- Trang bị công cụ hỗ trợ và phân loại tại nguồn: Cung cấp thùng rác chuyên dụng 2 màu cho các hộ gia đình để tách biệt rác hữu cơ dễ phân hủy và rác tái chế; vận động 100% người dân phân loại trước khi đưa ra điểm tập kết.
- Kỹ thuật chôn lấp hợp vệ sinh: Xóa bỏ 12 bãi rác tự phát, quy hoạch gom lại thành 2 bãi chôn lấp tập trung đúng tiêu chuẩn kỹ thuật: gia cố bờ bao cao chống sụt lún và ngập lụt, đáy lót vải địa kỹ thuật hoặc màng chống thấm ngăn nước rỉ rác, định kỳ đầm nén và phủ đất dày lên bề mặt để dập tắt mùi hôi.
- Ứng dụng công nghệ ủ sinh học (Compost): Tận dụng hợp phần rác hữu cơ chiếm tới 50% tổng lượng rác để ủ phân vi sinh hiếu khí tại quy mô hộ gia đình và cụm dân cư, tạo nguồn phân bón hữu cơ thay thế phân bón hóa học (NPK, Urea) cho cây trồng, giảm thể tích chôn lấp.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã cung cấp bộ số liệu thực nghiệm nguyên bản đầu tiên về khối lượng phát thải (0,56 kg/người/ngày) và thành phần vật lý của rác thải sinh hoạt nông thôn tại xã Thái Giang. Tác giả chỉ rõ khoảng trống quản lý giữa hạ tầng thu gom (nhà chứa rác xây năm 2013) và hành vi thực tế của cộng đồng dân cư, làm cơ sở thực chứng để chính quyền xã Thái Thụy hoàn thiện quy hoạch bãi rác và xây dựng đề tài chuyển đổi rác hữu cơ thành phân bón sinh học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại các hạn chế được xác định từ văn bản:
- Do điều kiện thiết bị và kinh phí phân tích mẫu không cho phép, việc đánh giá tác động của chất thải rắn đến môi trường đất và nước chưa tiến hành đo đạc các chỉ tiêu hóa lý thực nghiệm (pH, kim loại nặng, BOD5, COD, coliform); các kết luận chủ yếu dựa trên quan sát cảm quan và phỏng vấn ý kiến người dân canh tác lân cận.
- Đợt điều tra thực nghiệm đo đếm rác thải chỉ diễn ra trong 7 ngày liên tục vào tháng 4 năm 2017, do đó số liệu chưa phản ánh được sự biến động khối lượng chất thải rắn sinh hoạt theo các mùa trong năm hoặc vào các dịp lễ, Tết.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai lấy mẫu quan trắc định kỳ chất lượng nước mặt, nước ngầm và thổ nhưỡng xung quanh các bãi rác tập trung để đánh giá chính xác nồng độ các chất ô nhiễm thẩm thấu.
- Thử nghiệm mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) ở quy mô thực địa tại một số hộ gia đình hoặc thôn điểm, tính toán hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trước khi nhân rộng toàn xã.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Tài nguyên Đất đai: Cung cấp tài liệu mẫu về phương pháp thiết kế phiếu điều tra xã hội học môi trường kết hợp quy trình cân đo, phân loại 4 nhóm rác thực tế tại cấp xã.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện: Tham khảo mô hình phân tích định lượng làm luận cứ xây dựng quy hoạch bãi tập kết chất thải rắn hợp vệ sinh, phương án thu gom và đề án xã hội hóa dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình của người dân xã Thái Giang là bao nhiêu?
Theo kết quả cân đo thực nghiệm trong 7 ngày đối với 50 hộ gia đình và 7 điểm công cộng vào tháng 4 năm 2017, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình tại khu dân cư là 0,56 kg/người/ngày. Trong khi đó, tại các điểm công cộng (cơ quan hành chính, trường học, trạm y tế, chợ), lượng rác phát sinh trung bình đạt 0,030 kg/người/ngày.
2. Tỷ lệ các thành phần trong chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang được xác định như thế nào?
Theo kết quả phân loại tại nguồn, rác thải sinh hoạt của xã gồm 4 nhóm thành phần: chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 50%; chất hữu cơ có thể tái chế (túi nilon, nhựa, giấy, kim loại) chiếm 28%; chất vô cơ (xỉ than, đất, gạch đá, sành sứ vỡ) chiếm 17,2%; thành phần khác (chất thải nguy hại, pin cũ) chiếm 4,8%.
3. Tỷ lệ thu gom rác thải tại xã Thái Giang đã biến đổi ra sao từ năm 2007 đến 2013?
Năm 2007, tỷ lệ thu gom rác thải của xã chỉ đạt 10% (90% không được thu gom). Đến năm 2009, khi địa phương bắt đầu áp dụng chính sách quản lý môi trường, tỷ lệ thu gom tăng lên 60%. Đến năm 2013, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom trên địa bàn xã đạt 85%, lượng rác không được thu gom giảm còn 15%.
4. Thực trạng các bãi chứa rác thải sinh hoạt tại xã Thái Giang ghi nhận những bất cập gì?
Toàn xã có 12 bãi rác tự phát không hợp vệ sinh: hố nông, không có bờ kè chống tràn, đáy không lót màng chống thấm làm nước rỉ rác đen ngấm vào nước mặt, bề mặt không phủ đất gây mùi hôi thối trong bán kính 30 m. Hai nhà chứa rác xây năm 2013 tại thôn Phất Lộc Đông và thôn Phất Lộc Tiến không được sử dụng đúng cách, rác thải bị người dân tiện tay vứt tràn lan quanh tường bao ngoài nhà chứa.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp kỹ thuật chính nào để giải quyết rác hữu cơ tại địa phương?
Tác giả đề xuất kết hợp hai giải pháp kỹ thuật: (1) Xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh tập trung thay thế 12 bãi tự phát, có thành đắp cao chống lún ngập, đáy lót vải địa kỹ thuật chống thấm và mặt hố phủ đất định kỳ; (2) Triển khai mô hình ủ phân sinh học hiếu khí (compost) tận dụng 50% lượng rác hữu cơ dễ phân hủy để sản xuất phân bón vi sinh phục vụ canh tác nông nghiệp, giảm thiểu phân bón hóa học.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bùi Thị Mỹ Hạnh đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình thông qua các số liệu điều tra thực địa năm 2017. Nghiên cứu đã làm rõ đặc trưng rác thải nông thôn với tỷ lệ chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tới 50% và định mức phát thải 0,56 kg/người/ngày, đồng thời chỉ ra những hạn chế nghiêm trọng của 12 bãi rác tự phát gây ô nhiễm môi trường nước và không khí xung quanh. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất, đặc biệt là quy hoạch bãi chôn lấp hợp vệ sinh và kỹ thuật ủ phân compost, là cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng dân cư địa phương.