ĐẶT VẤN ĐỀ Việt am đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. ền kinh tế thị trƣờng là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành kinh tế, trong đó có ngành chế iến lƣơng thực, thực phẩm tạo ra các sản phẩm có giá trị phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc cũng nhƣ xuất khẩu. Tuy nhiên chính sự phát triển nhanh chóng đó cùng với sự chậm trễ trong cải tiến công nghệ, đầu tƣ xử lý chất thải đã phát sinh những vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng ở nƣớc ta. Môi trƣờng đất, nƣớc, không khí đều và đang phải chịu tác động mạnh mẽ của vô số chất thải độc hại từ các ống khói, cống xả của các nhà máy, xƣởng sản xuất công nghiệp, đe dọa đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của con ngƣời và sinh vật.
Cùng với đó, công nghiệp chế biến thủy sản là một trong những ngành phát triển khá mạnh, bên cạnh những lợi ích to lớn đạt đƣợc về kinh tế - xã hội, ngành công nghiệp này cũng phát sinh nhiều vấn đề môi trƣờng cần phải giải quyết, trong đó ô nhiễm môi trƣờng do nƣớc thải là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Hiện nay, có rất nhiều nhà máy chế biến thủy sản ra đời và hoạt động với nhiều mặt hàng rất đa dạng. Công ty Cổ phần XNK Thủy sản Thanh Hóa sản xuất các mặt hàng thủy sản đông lạnh, nguyên liệu rất phong phú và đa dạng, chính vì thế tính chất và thành phần chất thải cũng rất phức tạp, đặc biệt là nƣớc thải. Do đó Công ty đã đƣa ra và thực hiện các biện pháp quản lý, xử lý chất thải, trong đó điển hình là hệ thống xử lý nƣớc thải.
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản Thanh Hoá”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để đánh giá, nhận xét những mặt hạn chế, tích cực của Công ty trong công tác bảo vệ môi trƣờng, từ đó đƣa ra đƣợc những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trƣờng của Công ty, góp phần bảo vệ sức khỏe môi trƣờng và của con ngƣời. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng qu n về ng nh hế iến thủy sản Việt N m ƣớc ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm ƣớt cũng nhƣ chịu sự chi phối của các yếu tố nhƣ gió, mƣa, địa h nh, thổ nhƣỡng, thảm thực vật nên tạo điều kiện hình thành dòng chảy với hệ thống sông ngòi dày đặc.
Không kể đến các sông suối không tên thì tổng chiều dài của các con sông là. Đó là điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng, khai thác thủy sản phát triển.[15] Cùng với ngành nuôi trồng thuỷ sản, khai thác thuỷ sản thì ngành chế biến thuỷ sản đã đóng góp xứng đáng chung trong thành tích của ngành thuỷ sản Việt Nam. Nghề chế biến thuỷ sản là nghề truyền thống từ hàng ngàn năm trƣớc ở Việt am, song trƣớc những năm 96 chủ yếu chỉ là những nghề thủ công với số ít chủng loại sản phẩm nhƣ phơi khô, ƣớp muối, nƣớng, lên men (làm mắm, nƣớc mắm). Cơ sở chế biến sản phẩm đông lạnh và đóng hộp đầu tiên là nhà máy cá hộp Hạ ong ra đời năm 957.
Từ sau năm 98 , công nghiệp chế biến đã có ƣớc phát triển vƣợt bậc. Đến hết năm , cả nƣớc có 65 cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu đạt các điều kiện an toàn chế biến thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt am. Trong đó, 9 cơ sở là doanh nghiệp hà nƣớc, 9 cơ sở là doanh nghiệp tƣ nhân, 59 cơ sở là công ty cổ phần, 9 cơ sở là liên doanh và 13 cơ sở là 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Các cơ sở chủ yếu tập trung ở Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Đông am Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là những nơi có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu khai thác, nuôi trồng thủy sản.[16] Thuỷ sản là ngành xuất khẩu mạnh của Việt Nam.
Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản hàng năm đã mang về cho ngân sách nhà nƣớc một khoản ngoại tệ lớn, rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Các sản phẩm đƣợc xuất khẩu ra nhiều nƣớc trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị trí của Việt Nam nói chung và ngành thuỷ sản Việt am nói riêng trên trƣờng quốc tế, trong đó mặt hàng đông lạnh chiếm 80%. 2 Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, giai đoạn 2001-2010, ngành thủy sản Việt Nam có tốc độ tăng trƣởng khá nhanh, đặc biệt là về xuất khẩu. Nếu nhƣ năm Việt Nam mới xuất khẩu đƣợc 375.000 tấn thủy sản, đạt 1,78 tỷ USD th đến năm sản lƣợng xuất khẩu đạt 1,34 triệu tấn (tăng ,5 lần), trị giá 4,94 tỷ USD (tăng ,8 lần).[17] ăm , kim ngạch xuất khẩu của nƣớc ta là 6,11 tỷ USD tăng 1,08 tỷ USD so với năm , chiếm , 7%.
ăm , kim ngạch xuất khẩu của nƣớc ta là 6,13 tỷ USD, tăng , tỷ USD so với năm và chiếm 0,33%. ăm , kim ngạch xuất khẩu của nƣớc ta là 6,7 tỷ USD tăng ,57% tỷ USD so với năm và chiếm 9,3%.[17] Theo Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt am (V SEP , năm tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7.8 6 triệu USD, tăng 6,7 % so với năm , nh quân tăng , 7% năm ( 995-. ăm kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm 5, 9% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp và ,65% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc.[19] Theo thông tin từ Tổng Cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 5 đạt khoảng 6,72 tỷ USD, giảm 14,3% so với năm và giảm 10,4% so với mục tiêu đặt ra của năm 2015. Cá oại hất thải thể sinh r trong quá tr nh hế iến thủy sản 1.
Chất thải r n Chất thải rắn sinh ra trong quá tr nh chế biến tồn tại dƣới dạng vụn thừa : tạp chất, đầu, đuôi, xƣơng vẩy., phần lớn các chất này đƣợc tận dụng lại để chế biến thành cấc loại thức ăn gia súc. Tuy nhiên, vẫn còn sót lại một lƣợng chất thải rắn trôi theo dòng nƣớc thải do quá tr nh làm vệ sinh nhà xƣởng không kỹ, lƣợng chất thải này có thể là nguôn gây ô nhiễm không khí bổ sung do mùi từ chúng bốc lên, gây khó chịu và ảnh hƣởng đến sức khỏe của công nhân trong Công ty và cƣ dân ở khu vực lân cận. h thải Khí thải sinh ra từ các lò đốt (lò đốt dầu của lò hơi , máy phát điện có chứa các chất gây ô nhiễm nhƣ: 2, SO2, bụi với mức độ ô nhiễm dao động theo thời gian và mức độ vận hành theo lò hơi. Tuy vậy, các chất ô nhiễm này đều có nồng độ nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937 - 1995).
Trong ngành chế biến thủy hải sản, các chất gây ô nhiễm không khí khá đặc trƣng đó là H2S với nồng độ có khả năng đạt từ 0,2 - 0,4 mg/m3, sinh ra chủ yếu từ sự phân huỷ các chất thải rắn (đầu, ruột, vẩy,.) của các vi khuẩn và NH3 sinh ra từ mùi nguyên liệu thủy sản hoặc do sự thất thoát từ các máy nén khí của các thiết bị đông lạnh. Các khí này có đặc điểm không phát tán đi xa nên mức độ ô nhiễm chỉ giới hạn trong khu vực phát sinh chúng. h n chung, các chất gây ô nhiễm không khí của ngành chế biến thủy hải sản là khá đa dạng nhƣng ở mức độ nhẹ và có thể khắc phục. ư thải Với các chủng loại nguyên liệu tƣơng đối phong phú cùng đối với điều kiện của nƣớc ta nên thành phần các chất thải trong nƣớc thải thủy sản cũng rất đa dạng.
ƣớc thải thủy sản có thể chia thành ba nguồn khác nhau: nƣớc thải sản xuất, nƣớc thải vệ sinh công nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt. Cả 3 loại nƣớc thải trên đều có tính chất gần tƣơng tự nhau. Trong đó nƣớc thải sản xuất có mức độ ô nhiễm cao hơn cả. ƣớc thải của phân xƣởng chế biến thuỷ sản có hàm lƣợng C D dao động trong khoảng từ 300 - 3000 (mg/l), giá trị điển hình là 5 (mg l , hàm lƣợng BOD5 dao động từ 300-2000 (mg/l), giá trị điển hình là (mg l.
Trong nƣớc thƣờng có các vụn thuỷ sản và các vụn này dễ lắng, hàm lƣợng chất rắn lơ lửng dao động từ 200-1000 (mg/l), giá trị thƣờng gặp là 5 (mg l. ƣớc thải thuỷ sản cũng ị ô nhiễm chất dinh dƣỡng với hàm lƣợng itơ khá cao từ 50-200 (mg/l), giá trị điển hình là 30 (mg/l). Ngoài ra, trong nƣớc thải của ngành chế biến thuỷ hải sản có chứa các thành phần hữu cơ mà khi bị phân huỷ sẽ tạo ra các sản phẩm trung gian của sự phân huỷ các axit béo không bảo hoà, tạo mùi rất khó chịu và đặc trƣng, gây ô nhiễm về mặt cảm quan và ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ công nhân làm việc. Đối với các công ty 4 thủy sản có sản xuất thêm các sản phẩm khô, sản phẩm đóng hộp thì trong dây chuyền sản xuất sẽ có thêm các công đoạn nƣớng, luộc, chiên thì trong thành phần nƣớc thải sẽ có chất béo, dầu.
ƣợng nƣớc thải và nguồn gây ô nhiễm chính là do nƣớc thải trong sản xuất. Thành phần, tính chất nƣớc thải chế biến thủy sản và ảnh hƣ ng của n đến môi trƣờng 1. Thành phần nư c thải chế biến thủy sản Với các chủng loại tƣơng đối phong phú nên thành phần các chất thải trong nƣớc thải chế biến thủy sản cũng rất đa dạng. ƣớc thải chế biến thủy sản có thể chia thành 3 nguồn khác nhau: nƣớc thải sản xuất, nƣớc thải vệ sinh công nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt.
Cả ba loại nƣớc thải trên có tính chất gần tƣơng tự nhau. Trong đó nƣớc thải sản xuất có mức độ ô nhiễm cao nhất. ƣớc thải ngành chế biến thủy sản thƣờng có hàm lƣợng COD, BOD5 cao, hàm lƣợng C D dao động trong khoảng từ 300-3000 (mg/l), giá trị điển h nh là 5 (mg l. Hàm lƣợng BOD5 dao động từ 300-2000 (mg/l), giá trị điển hình là 1000 (mg/l).
Trong nƣớc thƣờng có các vụn thủy sản và các vụn này dễ lắng, hàm lƣợng chất rắn lơ lửng dao động từ 300-1000 (mg/l), giá trị thƣờng gặp là 5 (mg l .