Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vùng Đồng Tháp Mười (DTM) là một trong những vùng sinh thái đất ngập nước tiêu biểu của Việt Nam, giữ vị trí ưu tiên phát triển thứ hai tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Lãnh thổ này có tổng diện tích tự nhiên khoảng 9.000 km², trong đó phần thuộc chủ quyền Việt Nam chiếm khoảng 6.700 km² trải rộng trên địa bàn các tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp. Trước áp lực gia tăng dân số, hậu quả chiến tranh cùng quá trình khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch, môi trường tự nhiên khu vực DTM đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng: đất phèn bị xì phèn hóa do đào xới, nguồn nước mặt bị chua hóa và ô nhiễm, đa dạng sinh học suy giảm và điều kiện vệ sinh nhân sinh chưa đảm bảo.
Để giải quyết mâu thuẫn giữa khai thác phát triển kinh tế và bảo vệ tính bền vững của hệ sinh thái đất ngập nước, khóa luận cử nhân địa lý của tác giả Võ Thị Dạ Thảo (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, niên khóa 1995 – 1999, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Văn Thanh) đã nghiên cứu đề tài: "Định Hướng Chiến Lược Quản Lý Môi Trường Ở Hệ Thống Địa Sinh Thái Đồng Tháp Mười".
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Vận dụng phương pháp luận khoa học môi trường, quan điểm địa sinh thái và quan điểm sinh thái phát triển bền vững vào thực tiễn lãnh thổ DTM.
- Xây dựng nhận thức khoa học về mối quan hệ giữa nhu cầu phát triển xã hội với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, phục vụ công tác giáo dục bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực giảng dạy địa lý ở bậc phổ thông.
- Giải quyết hai nhiệm vụ quản lý cốt lõi được đánh số trong văn bản: (1) Quản lý sinh thái nhân sinh tại hệ thống địa sinh thái (HTĐST) DTM; (2) Quản lý địa sinh thái tại HTĐST DTM.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao quát toàn bộ vùng đất ướt DTM thuộc lãnh thổ Việt Nam (tập trung số liệu trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và các vùng giáp ranh Long An, Tiền Giang), giới hạn nội dung ở việc xác lập hệ thống chỉ tiêu, mô hình tổ chức và biện pháp chiến lược định hướng quản lý trạng thái môi trường và sức khỏe dân cư.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên nền tảng khoa học môi trường và cảnh quan học hiện đại, xem xét vùng lãnh thổ DTM như một "địa hệ" (địa tổng thể) liên kết chặt chẽ thông qua các dòng trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin. Cơ sở lý luận chính dựa trên mô hình định hướng chiến lược quản lý môi trường 3 giai đoạn của nhà khoa học I.P. Gerasimov (1976):
- Giai đoạn 1: Quản lý sinh thái sinh vật (quản lý vệ sinh / sinh thái nhân sinh).
- Giai đoạn 2: Quản lý hệ thống địa lý (quản lý địa sinh thái / tự nhiên - kinh tế - xã hội).
- Giai đoạn 3: Quản lý sinh quyển.
Tác giả vận dụng chọn lọc 2 giai đoạn đầu phù hợp với cấp độ lãnh thổ vùng DTM: Quản lý sinh thái nhân sinh và Quản lý địa sinh thái. Đồng thời, khóa luận vận dụng các hướng dẫn của Viện Môi trường Thế giới (WRI, 1995), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), cùng các quy định pháp luật Việt Nam (Luật Bảo vệ Môi trường, hệ thống Tiêu chuẩn Tạm thời về Môi trường, tiêu chuẩn nước uống TC-20 TCN).
Phương pháp nghiên cứu thực hiện chủ yếu trong phòng thông qua các bước xử lý tư liệu thứ cấp:
- Phương pháp thống kê danh mục chỉ tiêu quản lý môi trường: Lập bảng phân loại chỉ tiêu tương đối, tối thiểu, tối đa cho môi trường tự nhiên, chất lượng cuộc sống và môi trường kinh tế - xã hội.
- Phương pháp tổng hợp và chuẩn hóa tài liệu: Thu thập văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo quy hoạch ĐBSCL (10/1993), số liệu điều tra thổ nhưỡng của USDA (1985–1990), số liệu thủy văn, khí tượng và tài liệu dự án; chuyển đổi và nhất thể hóa hệ thống đơn vị đo lường.
- Phương pháp bản đồ và so sánh không gian: Sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất (1993, 1994), bản đồ phân vùng địa sinh thái, lát cắt địa hình sinh thái để đánh giá diễn biến ô nhiễm và cơ cấu canh tác.
- Phương pháp thực địa: Tác giả ghi nhận hạn chế do điều kiện kinh phí và thời gian nên không thể triển khai khảo sát thực địa trực tiếp theo tuyến/điểm mà hoàn toàn dựa trên dữ liệu văn phòng đã được kiểm tra tính chính xác.
Quy trình nghiên cứu tiến hành qua 3 giai đoạn: (1) Sưu tầm tư liệu, làm thư mục tham khảo, can vẽ bản đồ và thông qua đề cương; (2) Xử lý số liệu thô và viết bản thảo; (3) Hoàn chỉnh tính toán, đánh máy, lập biểu bảng và in ấn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mục tiêu, yêu cầu, nội dung nghiên cứu, giới hạn đề tài và lịch sử nghiên cứu đề tài
Chương này khái quát tính cấp thiết của công tác quản lý môi trường toàn cầu trước thềm thế kỷ 21. Tác giả tổng thuật lịch sử nghiên cứu:
- Trên thế giới: Các nỗ lực của OECD, WRI (1995), UNEP, Ngân hàng Thế giới (đề xuất ma trận vấn đề môi trường), mô hình 3 giai đoạn của I.P. Gerasimov (1976), cùng kinh nghiệm quản lý tài nguyên của Canada, Hà Lan, Australia và Nga.
- Tại Việt Nam: Quá trình triển khai các chỉ thị về ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp, vệ sinh nước sạch và khai thác khoáng sản; vị trí của DTM là 1 trong 25 vùng đất ngập nước trọng điểm cần quy hoạch quản lý môi trường theo đơn vị địa sinh thái.
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày khung lý thuyết địa sinh thái, mối liên hệ giữa các hợp phần tự nhiên và nhân tạo, nguyên lý cân bằng sinh thái và quan điểm kinh tế môi trường. Chương 2 thiết lập danh mục khung các chỉ tiêu quản lý môi trường (Bảng 2.1) bao gồm chỉ tiêu chất lượng môi trường vật lý (đất, nước, không khí), chỉ tiêu chất lượng cuộc sống (thu nhập, học vấn, y tế, dinh dưỡng) và các chỉ tiêu địa sinh thái kinh tế - xã hội (thủy lợi, điện lực, giao thông, đô thị hóa).
Chương 3: Đánh giá hiện trạng môi trường Đồng Tháp Mười
Chương này cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng tự nhiên và nhân văn vùng DTM qua các mốc số liệu lịch sử:
| Nhóm đất chính tại DTM |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ so với diện tích tự nhiên DTM (%) |
Đặc điểm phân bố và tính chất |
| Nhóm đất phèn |
273.744 |
43,52% |
Chiếm 17% diện tích đất phèn ĐBSCL. Phân bố tại Tam Nông, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Tân Phước, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Bến Lức. Gồm 3 trọng điểm phèn nặng: Mỏ Vẹt Bo Bo, Bắc Đông và Tràm Chim; pH đất biến thiên từ 3,0 (đất phèn nặng $S_n$) đến cao hơn. |
| Nhóm đất phù sa |
217.442 |
34,56% |
Gồm phù sa hệ thống sông Cửu Long (123.049 ha), phù sa hệ thống sông Vàm Cỏ (8.105 ha) và phù sa trên nền phèn (85.340 ha, chiếm 39% đất phù sa). pH đạt khoảng 6,5 ở bãi bồi. |
| Nhóm đất xám |
— |
16,72% |
Chiếm 78% diện tích đất xám toàn ĐBSCL, phân bố dọc biên giới Campuchia (Đức Huệ, Thạnh Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Tân Hồng). |
| Nhóm giồng cát |
— |
0,43% |
Nguồn gốc trầm tích biển gió, phân bố rải rác tại Tam Nông, Cai Lậy. |
Về môi trường nước, sông Vàm Cỏ Tây bị nhiễm phèn cả hai mùa (đo đạc năm 1982 ghi nhận pH = 4–6; mùa mưa năm 1994 ghi nhận hàm lượng ôxy hòa tan $O_2$ đạt 5,6–6,4 mg/l, mùa khô đạt 4,16–6,56 mg/l; ion $NH_4^+$ tăng cao lên 1,25 mg/l tại Bình Châu). Độ mặn $7‰$ xuất hiện tại Tân Lập và Tuyên Nhơn năm 1995. Tại các kênh nội đồng, nước bị chua phèn nặng (năm 1985 kênh Bo Bo có pH = 2,5; kênh Nguyễn Văn Tiếp pH = 3,0). Tại khu bảo tồn Tràm Chim, việc tháo kiệt nước mùa khô để đánh bắt cá khiến pH nước tụt sâu xuống 2,7–3,3.
Hệ sinh vật ghi nhận 282 loài thực vật nổi (thuộc 6 ngành tảo, trong đó 201 loài làm thức ăn cho thủy sản, 155 loài tham gia làm sạch nước, 7 loài độc hại), 49 loài động vật nổi, 9 loài tôm nước ngọt, 61 loài cá trên sông Vàm Cỏ Tây, 55 loài cá trên sông Vàm Cỏ Đông và 56 loài cá tại Tràm Chim. Nhiều loài quý hiếm như sếu cổ trụi, lúa ma (lúa trời) đang đối mặt nguy cơ suy giảm quần thể do chuyển đổi đất lúa và khai thác cạn kiệt.
Về môi trường nhân văn, dân số DTM thuộc tỉnh Đồng Tháp tăng từ 467.383 người (1976) lên 767.169 người (1996), tốc độ gia tăng dân số 1,93%/năm. Cơ cấu sản xuất lúa chuyển biến mạnh: diện tích lúa mùa nổi từ 106.902 ha (1976) giảm 68,38% vào năm 1987 và đến năm 1996 gần như không còn, thay thế hoàn toàn bằng lúa Đông Xuân và Hè Thu (đạt 152.316 ha vụ Hè Thu và vụ ba, tăng 229,14%). Sản lượng lương thực bình quân đạt 1.681 kg/người/năm (1996). Tuy vậy, hạ tầng xã hội còn nhiều bất cập: 20% số hộ phải di dời trong mùa lũ, tỷ lệ hộ nông thôn dùng nước sạch chỉ đạt 5,31% (so với mức 11,05% toàn tỉnh), còn 121 lớp học 3 ca (riêng huyện Hồng Ngự có 39 lớp), tuổi thọ trung bình thấp (nam 60 tuổi, nữ 58 tuổi), và tập quán cầu tiêu xả trực tiếp ra sông rạch còn phổ biến.
Chương 4: Định hướng chiến lược quản lý môi trường ở hệ thống địa sinh thái Đồng Tháp Mười
Tác giả phân chia DTM thành 4 cảnh sinh thái chính làm cơ sở quy hoạch:
| Cảnh sinh thái |
Diện tích (ha) |
Loại hình đất ngập nước Ramsar & Thủy vực |
Đặc trưng sinh thái và định hướng mô hình sử dụng (MU) |
| Thềm cổ đất xám Sa Rài – Mộc Hóa (A) |
111.059 |
WL 20; Thủy vực gò ($D_oN_o$), nước ngọt |
Khí hậu hơi khô, lượng mưa 1000–1200 mm; thảm thực vật ưa khô (hội đoàn cỏ sả, điền ma, túc hình, ngũ phướng, lác hến). Áp dụng mô hình MU 2–9; tập trung giải quyết MU 26, 27. |
| Đồng lụt kín đất phèn Tràm Chim – Ấp Bắc – Tân Thạnh (B) |
414.245 |
WL 15, 18, 19, 21; Thủy vực phèn nặng ($D_pN_c$), phèn nhiễm mặn ($D_pN_cNa$), phèn nước mềm ($D_pNm$) |
Khí hậu ẩm, mưa 1000–1400 mm; thảm tràm gió, dưng, năng ngọt. Áp dụng MU 2–4, 8–18, 23–25, 29; giải quyết trọng tâm MU 23, 28. |
| Đồng bồi ven sông Tiền phù sa mới Hồng Ngự – Mỹ Tho (C) |
250.186 |
WL 13, 19, 20, 21; Thủy vực phù sa nước cứng loại 1 ($D_oN_c$) |
Mưa 1200–1800 mm; đất đai màu mỡ thích hợp lúa năng suất cao, cây ăn trái, mía, thuốc lá. Áp dụng MU 1, 7, 19, 24, 26–30; giải quyết MU 26, 27, 29, 30. |
| Đồng lụt ven sông đất phù sa sông Vàm Cỏ (D) |
45.000 |
WL 13, 15, 19, 20; Thủy vực sông Vàm Cỏ ($D_aNm$) |
Khí hậu hơi ẩm, mưa 1200–1400 mm; thảm thực vật ven sông (dừa nước, bần, bình bát, cà na). Áp dụng MU 1, 2, 7, 21, 22; giải quyết MU 26, 27, 29, 30. |
Nội dung chiến lược được cụ thể hóa theo hai giai đoạn:
-
Giai đoạn 1: Quản lý sinh thái nhân sinh:
- Chỉ tiêu tự nhiên: Kiểm soát pH đất duy trì ở mức tối ưu (hạn chế xì phèn), bảo vệ tầng than bùn để giữ ẩm và hạn chế phản ứng chua, duy trì độ ẩm đất 70–80%, kiểm soát dư lượng hóa chất trừ sâu; nước uống theo chuẩn TC-20 TCN (pH 6,5–8,5, hàm lượng sắt Fe $\le$ 0,3 mg/l, Coli < 20 khuẩn lạc/100ml, không vi khuẩn kỵ khí); kiểm soát 6 chất ô nhiễm không khí ($CO, SO_2, HC, NO_2, O_3$, bụi lơ lửng) với nồng độ CO không vượt ngưỡng 50 ppm.
- Chỉ tiêu chất lượng cuộc sống: Phấn đấu GDP bình quân đầu người đạt 400 USD/năm; nhu cầu năng lượng 2500–3500 kcal/ngày; tỷ lệ biết chữ nâng lên trên 86,6%; tuổi thọ trung bình nâng lên 65 tuổi (nam) và 66 tuổi (nữ); tỷ lệ tiêm chủng vắc xin đạt 50,70–53,96% trẻ em dưới 10 tuổi; giảm sinh xuống 1–2 con/bà mẹ (62,76% cặp vợ chồng áp dụng kế hoạch hóa gia đình); bảo tồn di tích văn hóa (Gia Định Thành Thông Chí, Miếu Trời Sanh, di tích Óc Eo, chùa Hòa Long Tự).
- Tổ chức và giải pháp: Trạm vệ sinh phòng dịch, Trạm bảo vệ thực vật, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường. Ứng dụng quy trình xử lý nước thải 3 cấp (cấp 1: cơ học; cấp 2: hóa lý và sinh học; cấp 3: khử triệt để Nitơ, Photpho); xử lý khí thải bằng bộ lọc và cyclone xoáy thuận; chuyển đổi sang bón phân lân và canxi thay cho phân urê đơn thuần.
-
Giai đoạn 2: Quản lý địa sinh thái:
- Quy hoạch kinh tế - xã hội: Thiết lập vùng lúa 2 vụ cao sản phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp A (60.000 ha), vùng đậu bắp phía Nam kênh (30.000 ha), vùng chuyên canh mía và thuốc lá tại Tân Hồng, Hồng Ngự, Thanh Bình; phát triển diện tích nuôi thủy sản đạt 7.000–10.000 ha; hiện đại hóa viễn thông đạt 100% xã có điện thoại tự động; phát triển đô thị Trường Xuân; đảm bảo 100% xã có điện lưới quốc gia và 60% hộ dân sử dụng điện sinh hoạt.
- Hạ tầng kiểm soát lũ: Xây dựng 46 cụm dân cư vượt lũ (bố trí 92.000 dân), 15 tuyến dân cư dài 320 km (130.000 dân), 5 đê bao thị trấn (64.000 dân), đảm bảo an toàn vượt mức lũ lịch sử năm 1961.
- Hệ thống 6 nhóm biện pháp: (1) Thủy lợi đồng bộ (lấy tuyến Hồng Ngự – Vĩnh Hưng làm trục chiến lược); (2) Kỹ thuật làm đất (cày ải sớm phơi đất để cắt đứt mao quản dẫn phèn, lợi dụng nước mưa đầu mùa rửa phèn và dùng nước lũ ém phèn); (3) Sinh học (đưa vào các giống lúa ngắn ngày kháng phèn, trồng rừng tràm); (4) Hóa học (bón lân và canxi cải tạo đất); (5) Bố trí lại dân cư gắn với thành lập đơn vị hành chính mới; (6) Huy động vốn đầu tư đa nguồn.
Chương 5: Kết luận
Khóa luận đúc kết tính cấp thiết của việc áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý sinh thái nhân văn và cảnh quan địa sinh thái nhằm bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước DTM, phục vụ phát triển kinh tế bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư nông thôn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và xây dựng được hệ số liệu có giá trị khoa học về vùng DTM:
- Tổng hợp chi tiết cơ cấu 4 nhóm đất chính (đất phèn 273.744 ha chiếm 43,52%, đất phù sa 217.442 ha chiếm 34,56%, đất xám 16,72%, giồng cát 0,43%) và chỉ rõ cơ chế chuyển hóa khoáng vật phèn từ Pyrite sang Jarosite giải phóng ion $Al^{3+}, Fe^{3+}$ gây chua hóa môi trường.
- Thiết lập bản đồ và phân định rõ ranh giới, đặc tính lý - hóa - sinh của 4 đơn vị cảnh sinh thái đất ướt DTM (Sa Rài – Mộc Hóa 111.059 ha; Tràm Chim – Ấp Bắc – Tân Thạnh 414.245 ha; Hồng Ngự – Mỹ Tho 250.186 ha; Vàm Cỏ 45.000 ha) gắn liền với mã hóa mô hình sử dụng đất Ramsar.
- Xây dựng hệ thống bảng chỉ tiêu môi trường cụ thể cho vùng đất ngập nước: tiêu chuẩn nước ăn uống TC-20 TCN, tiêu chuẩn khí thải, nồng độ giới hạn các chất độc hại trong nước mặt và nước ngầm.
- Đề xuất quy trình canh tác nông nghiệp thích ứng với đặc tính phèn: kỹ thuật cày ải sớm cắt đứt mao quản dẫn phèn kết hợp xả phèn đầu mùa mưa và trữ lũ ém phèn; thay đổi cơ cấu phân bón từ đạm urê sang phân lân/canxi; quy hoạch 46 cụm và 15 tuyến dân cư sống chung với lũ an toàn theo mực lũ 1961.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các hạn chế chủ yếu do điều kiện thực hiện của sinh viên:
- Đề tài hoàn toàn sử dụng số liệu thứ cấp và phân tích trong phòng, chưa tiến hành khảo sát thực địa trực tiếp theo tuyến và điểm để kiểm chứng độc lập các thông số môi trường tại thời điểm nghiên cứu.
- Các số liệu vi khí hậu, quan trắc ô nhiễm không khí và chất lượng nước mặt ở một số tiểu vùng trũng ngập sâu còn phụ thuộc vào các dự án trước đó, chưa có chuỗi số liệu đo đạc liên tục qua nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc quan trắc thực địa định kỳ các điểm xì phèn, đo đạc nồng độ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất canh tác lúa cao sản 3 vụ, và đánh giá hiệu quả thực tế của các cụm tuyến dân cư vượt lũ sau khi triển khai trên diện rộng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Địa lý học, Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Đất đai khi nghiên cứu về sinh thái cảnh quan và quản lý môi trường vùng đất ngập nước.
- Người làm nghiên cứu về Đồng bằng sông Cửu Long cần tra cứu chuỗi số liệu lịch sử giai đoạn 1976 – 1996 về diễn biến diện tích đất canh tác, chuyển dịch mô hình lúa mùa nổi sang lúa cao sản, thông số thủy hóa sông Vàm Cỏ Tây và số liệu dân sinh DTM.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 (số liệu thống kê phân loại đất, biến động thủy sinh vật) và Chương 4 (kỹ thuật làm đất cắt mao quản ém phèn, sơ đồ phân vùng 4 cảnh sinh thái kết hợp mã hóa loại hình đất ngập nước Ramsar).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chia Đồng Tháp Mười thành bao nhiêu cảnh sinh thái và diện tích từng cảnh là bao nhiêu?
Khóa luận phân chia DTM thành 4 cảnh sinh thái:
- Cảnh thềm cổ đất xám Sa Rài – Mộc Hóa: 111.059 ha.
- Cảnh đồng lụt kín đất phèn Tràm Chim – Ấp Bắc – Tân Thạnh: 414.245 ha.
- Cảnh đồng bồi ven sông Tiền Hồng Ngự – Mỹ Tho: 250.186 ha.
- Cảnh đồng lụt ven sông đất phù sa sông Vàm Cỏ: 45.000 ha.
2. Cơ cấu các nhóm đất chính tại Đồng Tháp Mười được thống kê trong văn bản như thế nào?
Văn bản thống kê 4 nhóm đất:
- Đất phèn: 273.744 ha (chiếm 43,52% diện tích tự nhiên DTM và 17% đất phèn ĐBSCL).
- Đất phù sa: 217.442 ha (chiếm 34,56% diện tích DTM, trong đó đất phù sa trên nền phèn chiếm 85.340 ha).
- Đất xám: chiếm 16,72% diện tích DTM (tương đương 78% diện tích đất xám toàn ĐBSCL).
- Đất giồng cát: chiếm 0,43% diện tích DTM.
3. Tại sao tác giả đề xuất biện pháp cày ải sớm để cải tạo đất phèn tại Đồng Tháp Mười?
Theo giải thích của tác giả, khi mặt ruộng bắt đầu khô sau vụ Đông Xuân, cày đất sớm (cày ải) và phơi đất sẽ cắt đứt hệ thống mao quản trong lòng đất, ngăn chặn phèn từ các tầng trầm tích bên dưới mao dẫn lên bề mặt trong mùa khô. Khi mùa mưa đến, nước mưa đầu mùa hòa tan độc chất trên tầng mặt để tháo rửa; sau đó nước ngọt được giữ lại trên ruộng để ém phèn trước khi đón lũ bồi đắp phù sa.
4. Khóa luận đề xuất những chỉ tiêu cụ thể nào về nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư DTM?
Các chỉ tiêu định hướng bao gồm: nâng GDP bình quân đầu người lên 400 USD/năm; đảm bảo năng lượng khẩu phần 2500–3500 kcal/ngày; nâng tỷ lệ biết chữ lên trên 86,6%; nâng tuổi thọ trung bình lên 65 tuổi (nam) và 66 tuổi (nữ); giảm sinh xuống 1–2 con/bà mẹ; đạt tỷ lệ 100% xã có điện thoại tự động và 60% số hộ nông thôn sử dụng điện lưới quốc gia.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Dạ Thảo đã hệ thống hóa bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thổ nhưỡng, thủy văn, sinh vật và hiện trạng nhân sinh vùng Đồng Tháp Mười giai đoạn 1976 – 1996. Bằng việc vận dụng sáng tạo mô hình quản lý môi trường 2 giai đoạn (sinh thái nhân sinh và địa sinh thái), công trình đã đề xuất khung chỉ tiêu kiểm soát ô nhiễm và định hướng phân vùng cảnh quan hợp lý. Đây là tài liệu địa lý môi trường có giá trị tư liệu thực tiễn cao đối với công tác quy hoạch phát triển bền vững vùng đất ngập nước Đồng bằng sông Cửu Long.