Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số 9 34 04 03) với đề tài "Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phan Tuấn Hùng tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Văn Chức và TS. Nguyễn Văn Tài, hoàn thành vào năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại quốc tế, các rào cản thuế quan truyền thống dần được cắt giảm (mức thuế trung bình toàn cầu giảm từ 13,1% năm 1995 xuống 7,1% năm 2014 theo cam kết WTO). Cùng lúc đó, các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là hàng rào kỹ thuật môi trường (Technical Barriers to Trade - TBT liên quan đến môi trường, hay "hàng rào xanh"), gia tăng mạnh mẽ (số lượng thông báo TBT gửi tới WTO tăng từ 369 năm 1995 lên 2.239 năm 2014). Tại Việt Nam, quá trình phát triển sản xuất làm gia tăng nhu cầu sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào. Thống kê từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy khối lượng phế liệu nhập khẩu đã tăng từ hơn 2,9 triệu tấn năm 2011 lên 3,5 triệu tấn năm 2016, và đạt gần 7,9 triệu tấn vào năm 2017 (trong đó sắt thép chiếm 67%). Sự kiện Trung Quốc ban hành chính sách cấm nhập khẩu phế liệu đã dẫn đến sự chuyển dịch luồng phế liệu toàn cầu, đặt Việt Nam trước nguy cơ trở thành nơi tiếp nhận chất thải không thể tái chế (thực tế từng xảy ra ùn tắc nghiêm trọng tại các cảng biển vào năm 2018). Dù Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 08/2018/TT-BTNMT và Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT quy định các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với phế liệu nhập khẩu, hệ thống chính sách và công cụ kỹ thuật môi trường vẫn bộc lộ hạn chế. Do đó, khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ quản lý công về cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường nhằm đáp ứng mục tiêu kép: bảo đảm nguồn nguyên liệu cho công nghiệp nhưng không gây tổn hại môi trường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất ở Việt Nam. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hàng rào kỹ thuật môi trường, nhận xét và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế.
  3. Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia sử dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu, rút ra bài học cho Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam.
  5. Xác định định hướng và đề xuất giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Hàng rào kỹ thuật môi trường là gì và vai trò của hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Các nước đã áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu như thế nào và các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam thời gian qua như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập?

Dựa trên khung phân tích, luận án kiểm định 4 giả thuyết khoa học:

  • Giả thuyết 1: Việt Nam gia tăng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường thì lượng phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam giảm.
  • Giả thuyết 2: Việt Nam gia tăng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường thì ô nhiễm môi trường từ lượng phế liệu nhập khẩu giảm.
  • Giả thuyết 3: Hàng rào kỹ thuật môi trường tác động đến hoạt động nhập khẩu phế liệu ngành thép, nhựa, giấy.
  • Giả thuyết 4: Hàng rào kỹ thuật môi trường tác động đến doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hàng rào kỹ thuật môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu.
  • Phạm vi nội dung: Hoạt động áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam. Định nghĩa phế liệu được căn cứ theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hồi cứu số liệu giai đoạn 2011 - 2020; các giải pháp và kiến nghị được đề xuất định hướng đến năm 2030.
  • Phạm vi không gian: Toàn lãnh thổ Việt Nam; đồng thời khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.
Chỉ số / Tiêu chí Dữ liệu trong luận án
Khối lượng phế liệu nhập khẩu năm 2011 > 2,9 triệu tấn (chủ yếu là sắt, nhựa, giấy, xỉ cát, xỉ slay, thạch cao)
Khối lượng phế liệu nhập khẩu năm 2016 ~ 3,5 triệu tấn
Khối lượng phế liệu nhập khẩu năm 2017 Gần 7,9 triệu tấn (sắt, thép chiếm 67%)
Biến động mức thuế quan trung bình thế giới (1995 - 2014) Giảm từ 13,1% xuống 7,1%
Biến động thông báo rào cản kỹ thuật TBT gửi WTO (1995 - 2014) Tăng từ 369 thông báo lên 2.239 thông báo

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả đã tổng hợp các công trình lý luận và thực nghiệm trong nước và quốc tế theo hai nhóm vấn đề chính:

Các nghiên cứu về rào cản kỹ thuật thương mại và hàng rào kỹ thuật môi trường nói chung:

  • Báo cáo thường niên của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) các năm 2013 và 2014 phân tích việc các quốc gia chuyển hướng sang sử dụng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp làm công cụ điều tiết thương mại khi thuế quan cắt giảm theo Mục 181 Đạo luật Thương mại năm 1974 sửa đổi. Báo cáo ước tính Thương mại Quốc gia về Rào cản Ngoại thương trước năm 2020 của USTR cũng ghi nhận xu hướng này.
  • Công trình của Swann, Temple và Shurmer (1996) nghiên cứu tác động của tiêu chuẩn kỹ thuật tại Anh và Đức giai đoạn 1985-1991, chỉ ra rằng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế nhìn chung tác động tích cực đến xuất khẩu nhưng ít ảnh hưởng đến nhập khẩu; riêng tiêu chuẩn đơn phương có ảnh hưởng tích cực tới nhập khẩu nhưng tác động tiêu cực đến xuất khẩu.
  • Tài liệu của Hội đồng Kinh tế APEC (1998) về các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại (TREMS), bao gồm hệ thống quy định pháp luật và biện pháp hành chính tác động lên dòng chảy thương mại.
  • Phân loại của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2012) ghi nhận trong 175 biện pháp phi thuế quan toàn cầu thì có 58 biện pháp kỹ thuật (SPS và TBT), chiếm 1/3 tổng số biện pháp.

Các nghiên cứu về rào cản kỹ thuật gắn với nhập khẩu phế liệu và tái chế:

  • Nghiên cứu của Kwasi Broni-Sefah (2013, 2014) về việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường để giảm thiểu phế liệu nhập khẩu vào các quốc gia nhập khẩu.
  • Các công trình của Nozomu Kawabata, Steel Business Briefing và ngân hàng HSBC phân tích tác động hai chiều của rào cản kỹ thuật môi trường tới ngành công nghiệp thép, nhựa, giấy: đối với nước phát triển là tác động nghịch chiều, còn với các nước đang phát triển là tác động cùng chiều do áp lực nhu cầu nguyên liệu đầu vào.
  • Nghiên cứu của Phan Công Hợp (2011) về công nghiệp tái chế tại Việt Nam, phản ánh tỷ lệ thu gom giấy đã qua sử dụng trong nước ở mức rất thấp so với tỷ lệ 60% - 80% tại các quốc gia trong khu vực, tạo sức ép buộc ngành giấy phải phụ thuộc vào nguồn giấy phế liệu nhập khẩu.
  • Báo cáo chuyên môn của Cục Kiểm soát ô nhiễm (2016) và Tổng cục Môi trường (2016, 2017) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận thực trạng cấp phép, lượng phế liệu nhập khẩu tăng nhanh và ô nhiễm phát sinh từ phế liệu tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào khía cạnh thương mại thuần túy của TBT hoặc đánh giá ô nhiễm môi trường đơn lẻ. Chưa có nghiên cứu nào phân tích một cách có hệ thống việc xây dựng và thực thi hàng rào kỹ thuật môi trường dưới góc độ quản lý nhà nước đối với phế liệu nhập khẩu tại Việt Nam, đặc biệt là trong mối quan hệ cân bằng giữa cung ứng nguyên liệu sản xuất và kiểm soát rủi ro môi trường theo các nguyên tắc của Hiệp định TBT/WTO. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này thông qua việc thiết lập khung phân tích quản lý công, kiểm định thực tế dữ liệu nhập khẩu và khảo sát các bên liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm cơ bản: Luận án làm rõ khái niệm "hàng rào kỹ thuật môi trường" là một bộ phận hợp thành chủ yếu của "hàng rào xanh". Đó là việc các quốc gia khai thác khía cạnh kỹ thuật của hàng hóa, dịch vụ và quy trình sản xuất để thiết lập quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp nhằm mục đích bảo vệ môi trường.
  • Khung pháp lý quốc tế: Khía cạnh môi trường trong thương mại quốc tế được thể hiện tập trung qua 5 hiệp định của WTO: GATT, TBT, SPS, TRIPs và SCM. Trong đó, Hiệp định GATT đóng vai trò luật chung (lex generalis), còn Hiệp định TBT và SPS là luật chuyên ngành (lex specialis). Hiệp định TBT điều chỉnh 3 công cụ chính:
    1. Quy chuẩn kỹ thuật (Technical Regulations): Bắt buộc áp dụng, do Chính phủ ban hành, quy định đặc tính sản phẩm hoặc phương pháp sản xuất. Theo án lệ WTO, quy định kỹ thuật được xác định qua 3 tiêu chí: áp dụng cho sản phẩm xác định, nêu rõ đặc tính sản phẩm, và bắt buộc tuân thủ.
    2. Tiêu chuẩn kỹ thuật (Standards): Không bắt buộc áp dụng, do các tổ chức được thừa nhận (như ISO với hơn 162 thành viên và trên 21.600 tiêu chuẩn công bố) ban hành dựa trên Bộ quy tắc thực hành tốt (Phụ lục 3 Hiệp định TBT).
    3. Quy trình đánh giá sự phù hợp (Conformity Assessment Procedures): Bắt buộc tuân thủ, gồm thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, công nhận và chứng nhận nhằm xác định sản phẩm đáp ứng quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn tương ứng.
  • Các nguyên tắc cốt lõi của TBT: Không phân biệt đối xử (đối xử quốc gia NT và đối xử tối huệ quốc MFN); Tránh tạo rào cản thương mại không cần thiết (xem xét tính cần thiết, mục tiêu chính đáng và đánh giá nguy cơ); Khuyến khích sử dụng tiêu chuẩn quốc tế; Đảm bảo tính minh bạch (thông báo dự thảo, vận hành điểm hỏi đáp, và thời hạn công bố văn bản tối thiểu 6 tháng trước khi có hiệu lực).
  • Khung phân tích của luận án (Hình 1): Được cấu trúc thành 4 mắt xích liên hoàn: (1) Cơ sở lý luận về hàng rào kỹ thuật môi trường -> (2) Bài học kinh nghiệm quốc tế -> (3) Đánh giá hiện trạng nhập khẩu và quản lý phế liệu ở Việt Nam -> (4) Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp quan điểm đổi mới của Đảng về bảo vệ môi trường và lý thuyết tự do hóa thương mại quốc tế. Về mặt kỹ thuật nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê thứ cấp:

  • Phương pháp sưu tầm tài liệu và số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê xuất nhập khẩu, báo cáo quản lý giai đoạn 2011 - 2020 từ Bộ Tài nguyên và Môi trường (Tổng cục Môi trường), Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tổng hợp các chuỗi dữ liệu nhập khẩu theo chủng loại phế liệu, số lượng doanh nghiệp được cấp giấy phép, lượng tạp chất phát sinh và các trường hợp vi phạm.
  • Phương pháp phân tích, so sánh chính sách: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Bảo vệ môi trường 2020, Thông tư 43/2010/TT-BTNMT, Thông tư 08/2018/TT-BTNMT, Thông tư 09/2018/TT-BTNMT) và đối chiếu với các điều khoản của Hiệp định TBT. Áp dụng quy trình phân tích dữ liệu theo tình huống so sánh.
  • Phương pháp khảo sát, phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu thực tế thông qua các câu hỏi mở đối với đại diện doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu phế liệu tại 3 thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh (Phụ lục 2 và Phụ lục 5). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia thương mại và chuyên gia môi trường (Phụ lục 3, Phụ lục 4 và Phụ lục 6) để đối chiếu thông tin về kẽ hở pháp lý và tính khả thi của các quy định kỹ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về hàng rào kỹ thuật môi trường và các nghiên cứu liên quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về hàng rào kỹ thuật môi trường trong hệ thống thương mại đa phương. Nội dung chương tập trung làm rõ:

  • Khái niệm và công cụ cấu thành: Phân biệt quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc, tiêu chuẩn tự nguyện và thủ tục đánh giá sự phù hợp. Phân tích các tiêu chí xác định quy định kỹ thuật qua các án lệ thực tế của WTO và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam.
  • Vai trò của hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu: Luận án chỉ ra 4 vai trò cụ thể: (1) Ngăn ngừa rủi ro dịch chuyển ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe con người, sinh vật thông qua việc giới hạn hàm lượng tạp chất độc hại lẫn trong phế liệu; (2) Định hướng và bảo vệ sản xuất nội địa, thúc đẩy hoạt động thu gom, phân loại và tái chế phế liệu trong nước (giảm thiểu lãng phí tài nguyên như trường hợp phế liệu giấy); (3) Ngăn chặn làn sóng biến các nước đang phát triển thành bãi rác công nghiệp xuyên biên giới; (4) Giảm thiểu thâm hụt cán cân thương mại và bảo vệ dự trữ ngoại hối bằng việc hạn chế chi ngoại tệ nhập khẩu phế thải kém chất lượng.
  • Nguyên tắc và thủ tục theo Hiệp định TBT: Phân tích chi tiết nguyên tắc không phân biệt đối xử, yêu cầu tính cần thiết nhằm không tạo rào cản thương mại không cần thiết, việc viện dẫn các trường hợp ngoại lệ để đạt mục tiêu chính đáng, và quy trình đảm bảo minh bạch (nghĩa vụ thông báo, thời hạn tham vấn 60 ngày, vận hành điểm hỏi đáp TBT, thời gian chuyển tiếp công bố 6 tháng).
  • Các yếu tố chi phối: Phân tích tác động hai chiều giữa sự phát triển của thương mại tự do quốc tế (các cam kết FTA thế hệ mới) và nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu thực tế của nền kinh tế đối với việc định hình chính sách hàng rào kỹ thuật môi trường.

Chương 2. Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam

Chương 2 cung cấp bức tranh thực nghiệm và phân tích thực trạng quản lý nhập khẩu phế liệu:

  • Kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu chính sách kiểm soát phế liệu nhập khẩu của Trung Quốc (chính sách thắt chặt tiêu chuẩn tạp chất và tiến tới cấm nhập khẩu 24 loại phế liệu rắn, làm dịch chuyển luồng phế liệu giấy và nhựa sang Đông Nam Á), Ấn Độ, Hoa Kỳ (hệ thống pháp luật gồm Đạo luật Kiểm soát Chất độc hại - TSCA, Đạo luật Phục hồi và Bảo tồn Tài nguyên - RCRA, Đạo luật Cải thiện An toàn Sản phẩm Tiêu dùng - CPSIA, Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú - MMPA), Liên minh Châu Âu (Chỉ thị về rác thải điện tử WEEE và các tiêu chuẩn kiểm soát dòng thải), Australia và New Zealand; từ đó rút ra các bài học về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, chỉ định cơ quan giám định và chế tài xử lý.
  • Thực trạng nhập khẩu và tác động môi trường tại Việt Nam:
    • Diễn biến nhập khẩu: Phân tích số liệu phế liệu nhập khẩu giai đoạn 2014-2020. Luận án thống kê sự gia tăng đột biến của khối lượng phế liệu sắt, thép, nhựa, giấy trong các năm 2016-2017; tổng hợp danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ xuất khẩu phế liệu sang Việt Nam (Bảng 2.3) và số lượng doanh nghiệp được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường (Bảng 2.4).
    • Khủng hoảng tồn đọng cảng biển: Bảng 2.8 tổng hợp số liệu phế liệu tồn đọng nghiêm trọng tại các cảng biển Việt Nam đến tháng 9 năm 2018 sau khi Trung Quốc đóng cửa thị trường.
    • Ô nhiễm và tạp chất: Bảng 2.11 ước tính lượng tạp chất lẫn trong phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018, chỉ ra nguy cơ phát sinh chất thải thứ cấp trong quá trình súc rửa, nấu chảy, tái chế tại các cơ sở sản xuất không đảm bảo công nghệ xử lý môi trường.
  • Thực trạng hệ thống thể chế và hàng rào kỹ thuật môi trường:
    • So sánh sự tương thích giữa Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam với các cam kết trong Hiệp định TBT (Bảng 2.10).
    • So sánh quy định kỹ thuật giữa Thông tư số 43/2010/TT-BTNMT và Thông tư số 08/2018/TT-BTNMT (Bảng 2.11), cùng với Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phế liệu sắt, thép, nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại màu và xỉ hạt lò cao.
    • Đánh giá hoạt động của các tổ chức được chỉ định giám định phế liệu nhập khẩu (Phụ lục 1 / Bảng 2.12).
  • Kết quả khảo sát doanh nghiệp và tồn tại chính sách:
    • Tóm tắt kết quả phỏng vấn doanh nghiệp nhập khẩu (Bảng 2.13): Hầu hết doanh nghiệp phản ánh quy chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe, thời gian thông quan giám định kéo dài làm tăng chi phí lưu kho bãi; đồng thời ghi nhận nhu cầu cấp thiết phải có hệ thống phân loại phế liệu rõ ràng, minh bạch.
    • Tồn tại, thách thức: Quy chuẩn kỹ thuật còn bộc lộ điểm chưa đồng bộ với danh mục hải quan; năng lực và tính liêm chính của một số tổ chức giám định được chỉ định chưa cao; quy trình kiểm tra thực tế tại cảng còn bất cập; nguy cơ gian lận thương mại đưa phế thải lẫn vào phế liệu vẫn diễn biến phức tạp.

Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam

Chương 3 trình bày các căn cứ định hướng và đề xuất giải pháp quản lý công đến năm 2030:

  • Bối cảnh và xu hướng: Đánh giá bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và định hướng phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn theo Luật Bảo vệ môi trường 2020.
  • Định hướng hoàn thiện: Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường; hoàn thiện hàng rào kỹ thuật môi trường theo hướng bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm nhưng không cản trở bất hợp lý hoạt động cung ứng nguyên liệu sản xuất hợp pháp; tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO.
  • Năm nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước:
    1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về nhập khẩu phế liệu: Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) đối với từng loại phế liệu nhập khẩu; chuẩn hóa quy trình đánh giá sự phù hợp; rà soát danh mục phế liệu được phép nhập khẩu cho phù hợp với năng lực tái chế và nhu cầu thực tế của từng ngành sản xuất.
    2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nguồn lực: Kiện toàn bộ máy quản lý, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; nâng cao năng lực kỹ thuật của hệ thống phòng kiểm nghiệm; siết chặt cơ chế kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động của các tổ chức giám định phế liệu được chỉ định.
    3. Tuyên truyền, nâng cao năng lực cho các bên liên quan: Tổ chức đào tạo nghiệp vụ về quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục TBT cho cán bộ hải quan, thanh tra môi trường; phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ thuật môi trường cho các doanh nghiệp nhập khẩu và chế biến phế liệu.
    4. Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro từ xa; tăng cường kiểm tra đột xuất quy trình lấy mẫu, giám định tại cửa khẩu; kiên quyết buộc tái xuất các lô hàng không đạt quy chuẩn và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại.
    5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế: Tăng cường trao đổi thông tin với hải quan và cơ quan môi trường của các quốc gia xuất khẩu phế liệu để phát hiện sớm các lô hàng phế thải bất hợp pháp; tận dụng hỗ trợ kỹ thuật về đo lường, thử nghiệm theo cơ chế của Hiệp định TBT.
  • Khuyến nghị thực thi: Luận án đưa ra các khuyến nghị phân định cụ thể trách nhiệm đối với Chính phủ, các Bộ ngành/địa phương liên quan và các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã xây dựng được khung phân tích lý luận có tính hệ thống về việc áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu lý thuyết quản lý công trong lĩnh vực này tại Việt Nam.
  2. Luận án làm rõ bản chất, nội hàm của hàng rào kỹ thuật môi trường trong mối quan hệ giữa các cam kết đa phương của Hiệp định TBT/WTO (nguyên tắc không phân biệt đối xử, tránh cản trở thương mại không cần thiết, tính minh bạch) với yêu cầu bảo vệ an ninh môi trường quốc gia.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Kiểm định giả thuyết về lượng phế liệu nhập khẩu: Kết quả thực nghiệm của luận án chỉ ra rằng việc gia tăng hệ thống hàng rào kỹ thuật môi trường không làm giảm lượng phế liệu sắt, thép nhập khẩu vào Việt Nam. Khối lượng phế liệu sắt thép vẫn gia tăng theo nhu cầu phát triển của nền kinh tế và công nghiệp xây dựng, trong khi các loại phế liệu khác như nhựa có xu hướng giảm dần.
  2. Làm rõ tác động đối với ô nhiễm từ tạp chất: Luận án chứng minh rằng hàng rào kỹ thuật môi trường hiện nay không làm giảm lượng tạp chất tự nhiên có trong phế liệu nhập khẩu, mà đóng vai trò chủ yếu là công cụ ngăn chặn việc nhập khẩu các lô hàng thực chất là phế thải độc hại, không thể tái sử dụng.
  3. Đánh giá tác động đối với doanh nghiệp: Kết quả khảo sát thực địa của luận án khẳng định các quy định kỹ thuật ngày càng khắt khe và thủ tục pháp lý chặt chẽ hơn đã tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu. Đa số doanh nghiệp phản ánh nhu cầu cần có hệ thống phân loại phế liệu minh bạch, thống nhất để bảo đảm sự tuân thủ bình đẳng.
  4. Hệ thống giải pháp và khuyến nghị quản lý công: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, kiện toàn tổ chức bộ máy, siết chặt quản lý tổ chức giám định cho đến tăng cường kiểm tra, thanh tra và hợp tác quốc tế nhằm quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu phế liệu đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án thừa nhận mẫu khảo sát định tính đối với doanh nghiệp còn tương đối nhỏ và được lựa chọn ngẫu nhiên dựa trên các mối quan hệ cá nhân, công tác tại ba thành phố (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), điều này làm hạn chế mức độ tổng quát hóa của kết quả khảo sát trên quy mô toàn quốc.
  • Nền tảng tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về hàng rào kỹ thuật môi trường đối với phế liệu tại Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu còn hạn chế, dẫn đến việc thiếu hụt các nghiên cứu thực nghiệm dài hạn đi trước để đối chiếu so sánh.
  • Phạm vi dữ liệu hồi cứu của luận án kết thúc ở mốc năm 2020, chưa bao quát được toàn diện các tác động thực tiễn sau khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 chính thức có hiệu lực thi hành đồng bộ từ năm 2022.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy mô mẫu điều tra, khảo sát định lượng với số lượng lớn hơn các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng phế liệu trên phạm vi cả nước để nâng cao tính đại diện.
  • Nghiên cứu sâu hơn về chi phí tuân thủ của doanh nghiệp khi các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới ban hành theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 được áp dụng vào thực tế.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành số hóa trong việc kiểm soát dòng chảy phế liệu nhập khẩu tại các cửa khẩu cảng biển gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Các cơ quan tham mưu chính sách thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường), Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý môi trường tại địa phương có thể tham khảo các phân tích về kẽ hở pháp lý, so sánh quy chuẩn kỹ thuật và các giải pháp tổ chức bộ máy giám định.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên cao học: Những người nghiên cứu trong các chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Luật Quốc tế và Kinh tế môi trường có thể kế thừa khung phân tích lý luận về TBT, phương pháp tiếp cận phân tích chính sách và hệ thống tài liệu trích dẫn về thương mại quốc tế.
  • Cộng đồng doanh nghiệp nhập khẩu và tái chế phế liệu: Các hiệp hội ngành hàng (Hiệp hội Thép, Hiệp hội Giấy và Bột giấy, Hiệp hội Nhựa) và doanh nghiệp sử dụng luận án để nắm bắt rõ ràng hơn các nguyên tắc pháp lý quốc tế của WTO/TBT, các nghĩa vụ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và định hướng đổi mới công nghệ xử lý chất thải.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất

  • Bảng so sánh giữa Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật với Hiệp định TBT (Bảng 2.10) và so sánh giữa Thông tư 43/2010/TT-BTNMT với Thông tư 08/2018/TT-BTNMT (Bảng 2.11).
  • Phân tích kinh nghiệm thực tiễn quản lý rào cản kỹ thuật phế liệu của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (Chương 2).
  • Mẫu phiếu phỏng vấn doanh nghiệp, chuyên gia thương mại, chuyên gia môi trường và danh sách các tổ chức giám định phế liệu được chỉ định (Phụ lục 1 đến Phụ lục 6).

Câu hỏi thường gặp

1. Hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu gồm những hình thức nào?

Theo quy định của Hiệp định TBT và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được trình bày trong luận án, hàng rào kỹ thuật môi trường bao gồm 3 hình thức:

  • Quy chuẩn kỹ thuật môi trường (quy định kỹ thuật): Mang tính bắt buộc áp dụng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các đặc tính kỹ thuật hoặc mức giới hạn tạp chất của phế liệu (ví dụ: Thông tư 08/2018/TT-BTNMT và Thông tư 09/2018/TT-BTNMT).
  • Tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường: Do các tổ chức tiêu chuẩn hóa công bố dưới dạng tự nguyện áp dụng, làm cơ sở hướng dẫn kỹ thuật.
  • Thủ tục đánh giá sự phù hợp: Bao gồm các hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận và công nhận tính phù hợp của lô hàng phế liệu nhập khẩu với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

2. Số liệu phế liệu nhập khẩu của Việt Nam biến động ra sao trong giai đoạn 2011 - 2017?

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường được luận án trích dẫn:

  • Năm 2011: Tổng khối lượng phế liệu nhập khẩu đạt hơn 2,9 triệu tấn (chủ yếu là sắt, nhựa, giấy, xỉ cát, xỉ slay, thạch cao).
  • Năm 2016: Khối lượng nhập khẩu đạt khoảng 3,5 triệu tấn.
  • Năm 2017: Tổng lượng phế liệu nhập khẩu tăng vọt lên gần 7,9 triệu tấn, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2016. Trong đó, sắt và thép chiếm tỷ trọng lớn nhất (67%); các loại phế liệu sắt, thép, nhựa, giấy và xỉ hạt nhỏ có khối lượng tăng đột biến từ 2 đến 3 lần so với năm 2016.

3. Hiệp định TBT đặt ra những nguyên tắc và yêu cầu minh bạch nào đối với việc ban hành hàng rào kỹ thuật?

Hiệp định TBT quy định:

  • Các nguyên tắc về nội dung: Nguyên tắc không phân biệt đối xử (giữa hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa tương tự trong nước và hàng hóa tương tự từ các nước khác); Tránh tạo ra rào cản thương mại không cần thiết (chỉ ban hành biện pháp kỹ thuật cần thiết để đạt mục tiêu chính đáng như bảo vệ môi trường, có tính đến rủi ro); Khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế (như hệ thống tiêu chuẩn ISO).
  • Các yêu cầu về thủ tục (tính minh bạch): Phải thông báo các dự thảo quy định kỹ thuật có thể ảnh hưởng lớn đến thương mại cho Ủy ban TBT; dành thời gian lấy ý kiến tối thiểu 60 ngày; thiết lập cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp TBT; công bố công khai văn bản quy định tối thiểu 6 tháng trước khi chính thức có hiệu lực thi hành để doanh nghiệp kịp thích ứng.

4. Luận án phát hiện điều gì về mối quan hệ giữa hàng rào kỹ thuật môi trường và lượng phế liệu sắt thép nhập khẩu?

Khác với giả thuyết ban đầu cho rằng gia tăng hàng rào kỹ thuật sẽ làm giảm lượng phế liệu nhập khẩu, kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án chỉ ra rằng lượng phế liệu sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên dù hàng rào kỹ thuật môi trường ngày càng chặt chẽ. Nguyên nhân là do nhu cầu nguyên liệu của ngành luyện kim và xây dựng trong nước tăng cao, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế. Ngược lại, đối với phế liệu nhựa, khối lượng nhập khẩu có xu hướng giảm dần do các quy chuẩn kỹ thuật phát huy hiệu lực hạn chế. Đồng thời, hàng rào kỹ thuật môi trường chủ yếu ngăn chặn các lô hàng phế liệu không thể tái sử dụng (phế thải) chứ không làm giảm lượng tạp chất tự nhiên vốn có của phế liệu được phép nhập khẩu.

Kết luận

Luận án của tác giả Phan Tuấn Hùng đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước về hàng rào kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020. Dựa trên việc phân tích các cam kết của Hiệp định TBT/WTO, bài học từ các quốc gia trên thế giới và dữ liệu thống kê kết hợp khảo sát doanh nghiệp, luận án chỉ rõ tác động thực tế của quy chuẩn kỹ thuật đối với từng nhóm phế liệu và thực trạng quản lý tại các cửa khẩu cảng biển. Công trình đã cung cấp cơ sở khoa học và đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, bộ máy và cơ chế phối hợp nhằm giúp Việt Nam vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu phế liệu phục vụ phát triển sản xuất, vừa ngăn chặn nguy cơ xâm nhập của chất thải công nghiệp đến năm 2030.