Luận án tiến sĩ: Năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã ở Đồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu năng lực quản lý công của chủ tịch UBND xã tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp nâng cao.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

262
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu

1.2. Các công trình nghiên cứu về năng lực và khung năng lực

1.3. Những công trình nghiên cứu về năng lực, khung năng lực của người đứng đầu chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền địa phương cơ sở của Việt Nam

1.4. Các công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của người đứng đầu chính quyền địa phương

1.5. Nhận xét về các công trình nghiên cứu

1.6. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

1.7. Những vấn đề chưa được làm rõ và chưa được đề cập

1.8. Định hướng nghiên cứu của Luận án

1.9. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ

2.1. Những vấn đề chung về Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.2. Khái quát về Ủy ban nhân dân xã

2.3. Khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, tiêu chuẩn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.4. Năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.5. Một số khái niệm liên quan

2.6. Các yếu tố cấu thành năng lực và cơ sở xây dựng khung năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.7. Tiêu chí đánh giá năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

2.8.1. Nhóm yếu tố chủ quan

2.8.2. Nhóm yếu tố khách quan

2.9. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và đội ngũ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

3.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

3.1.2. Ảnh hưởng các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

3.1.3. Khái quát về đội ngũ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.2. Phân tích thực trạng năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

3.2.1. Về kiến thức

3.2.2. Về kỹ năng

3.2.3. Về kết quả thực hiện nhiệm vụ

3.2.4. Đánh giá năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

3.3. Những hạn chế

3.4. Nguyên nhân của hạn chế

3.5. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NĂNG LỰC CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

4.1. Quan điểm hoàn thiện năng lực Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

4.2. Hoàn thiện năng lực dựa trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác cán bộ

4.3. Hoàn thiện năng lực trên cơ sở phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia và vùng trong điều kiện mới

4.4. Hoàn thiện năng lực cần giải pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương

4.5. Giải pháp hoàn thiện năng lực Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.5.1. Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn của đội ngũ Chủ tịch UBND xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.5.2. Hoàn thiện khung năng lực và khung tiêu chuẩn chức danh đối với Chủ tịch UBND xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.5.3. Đào tạo, bồi dưỡng

4.5.4. Tuyển chọn cán bộ quy hoạch đảm nhận vị trí Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

4.5.5. Chế độ chính sách và môi trường làm việc

4.5.6. Hoàn thiện hoạt động kiểm tra, đánh giá năng lực làm việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

4.6. Kết luận Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã

Năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã tại Đồng bằng sông Cửu Long là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các chính sách và phát triển địa phương. Năng lực này không chỉ bao gồm kiến thức và kỹ năng mà còn liên quan đến thái độ và khả năng lãnh đạo. Theo nghiên cứu, năng lực của Chủ tịch UBND xã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc và sự hài lòng của người dân. Việc nâng cao năng lực này cần được thực hiện đồng bộ và liên tục để đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò của Chủ tịch UBND xã

Chủ tịch UBND xã là người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương, có trách nhiệm lãnh đạo và điều hành các hoạt động của Ủy ban nhân dân. Vai trò của họ không chỉ là thực hiện các quyết định của cấp trên mà còn là cầu nối giữa chính quyền và người dân. Năng lực của họ quyết định đến sự thành công trong việc triển khai các chính sách phát triển địa phương, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý công

Năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố chủ quan như động cơ làm việc, khả năng tự học hỏi và yếu tố khách quan như điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt, cải cách hành chínhđào tạo cán bộ là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực của họ. Việc nhận thức rõ các yếu tố này sẽ giúp xây dựng các giải pháp hiệu quả hơn trong việc nâng cao năng lực quản lý công.

II. Thực trạng năng lực của Chủ tịch UBND xã tại Đồng bằng sông Cửu Long

Thực trạng năng lực của Chủ tịch UBND xã tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhiều hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ. Nhiều Chủ tịch chưa đáp ứng được yêu cầu về kiến thứckỹ năng cần thiết. Theo khảo sát, một số Chủ tịch còn thiếu kỹ năng giao tiếp và khả năng ra quyết định, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và sự hài lòng của người dân. Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để xác định các giải pháp phù hợp.

2.1. Đánh giá năng lực hiện tại

Năng lực của Chủ tịch UBND xã hiện tại được đánh giá qua các tiêu chí như kiến thức chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo và khả năng thực hiện nhiệm vụ. Nhiều Chủ tịch cho thấy sự thiếu hụt trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều này làm giảm hiệu quả công việc. Việc đánh giá này cần được thực hiện định kỳ để có cái nhìn tổng quan về năng lực của đội ngũ lãnh đạo địa phương.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Một số hạn chế trong năng lực của Chủ tịch UBND xã bao gồm thiếu kinh nghiệm thực tiễn và sự thiếu hụt trong việc đào tạo. Nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tuyển chọn và đào tạo cán bộ chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến việc nhiều Chủ tịch không đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương.

III. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý công

Để nâng cao năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, cần hoàn thiện khung năng lực và tiêu chuẩn chức danh cho Chủ tịch UBND xã. Thứ hai, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ để nâng cao trình độ chuyên môn. Cuối cùng, cần có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho đội ngũ lãnh đạo địa phương.

3.1. Hoàn thiện khung năng lực

Khung năng lực cho Chủ tịch UBND xã cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí rõ ràng và cụ thể. Điều này sẽ giúp xác định rõ những yêu cầu cần thiết cho vị trí này, từ đó tạo điều kiện cho việc tuyển chọn và đào tạo cán bộ phù hợp. Việc hoàn thiện khung năng lực cũng giúp nâng cao tính minh bạch trong công tác quản lý.

3.2. Đào tạo và bồi dưỡng

Đào tạo và bồi dưỡng là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực của Chủ tịch UBND xã. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý hành chính, kỹ năng lãnh đạo và giao tiếp. Ngoài ra, việc tạo cơ hội cho cán bộ tham gia các chương trình học tập và trao đổi kinh nghiệm cũng rất cần thiết để nâng cao năng lực thực tiễn.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực và khung năng lực 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ năng lực (Competence) xuất hiện năm 1973 trong bài viết “Testing for Competence Rather Than for “Intelligence”” (Kiểm tra năng lực hơn là sự thông minh) của David C.

Ông cho rằng cần kiểm nghiệm, đánh giá năng lực hơn là đơn thuần kiểm tra trí thông minh trong công tác tuyển dụng. Tác giả chỉ ra sự cần thiết tích hợp thái độ và các thuộc tính cá nhân vào năng lực. Một yếu tố khác của năng lực như sự nhạy cảm, tư duy tích cực với tính đa dạng, giao thoa văn hoá hay kỹ năng quản lý tạo ra sự khác biệt giữa những người hoàn thành tốt công việc với những người khác. Mặc dù không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, nhưng qua nội dung bài viết cho thấy tác giả tiếp cận năng lực trên cơ sở tổng hợp các yếu tố cần thiết để hoàn thành một công việc được giao [113, tr.

Từ đó, đến nay, việc quản lý nhân lực theo năng lực đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Cách tiếp cận năng lực trong môi trường tổ chức đã bắt đầu từ thập niên 1970 và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi [107]. Theo Hondeghem và cộng sự, quản lý theo năng lực trong khu vực công xuất hiện ở Hoa Kỳ và Anh vào những năm 1980 cùng với trào lưu Quản lý công mới ở Anh và phong trào tái tạo lại chính phủ ở Hoa Kỳ. Cuối những năm 1990, quản lý nhân sự theo năng lực đã phát triển rực rỡ trong khu vực công.

Năm 1999, quản lý theo năng lực đã xuất hiện trong chính quyền trung ương của Úc, Bỉ, Hàn Quốc. Ở hầu hết các quốc gia phát triển, quản lý theo năng lực đã được đưa vào như một phần trong công cuộc cải cách vai trò của nhà nước và nền công vụ. Trên thực tế hầu hết các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều có khái niệm năng lực riêng của mình, trong đó có thể gồm nhiều chi tiết chung. Úc, Bỉ, Canada, Hàn Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ coi năng lực như một tính chất hành vi có thể quan sát được.

Các thuộc tính như kiến thức, kỹ năng, thái độ các tính chất cá nhân khác là những yếu tố cơ bản của năng lực. Một số quốc gia OECD đưa ra quan điểm năng lực có liên quan đến hiệu suất 12 Luận án tiên sĩ Quản lý công thực thi cao, hiệu quả hoặc hiệu suất thực thi theo một tiêu chuẩn quy định. Cùng với thực tiễn trên, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhỏ khác nhau về năng lực và khung năng lực. Nội dung của các công trình đó đề cập đến nhiều vấn đề như khái niệm năng lực, KNL, sự cần thiết của việc quản lý nhân sự bằng năng lực, cơ sở xây dựng KNL, các nhân tố tác động đến năng lực, v.v… Trong Luận án này, tác giả sẽ cố gắng hệ thống những công trình đó ở mức độ khái quát nhất có thể.

Năm 1992, công trình Designing and achieving competency:a competency-based approach to developing people and organizations (Thiết kế và đạt được năng lực: một cách tiếp cận dựa trên năng lực để phát triển con người và tổ chức) của hai tác giả Rosemary Boam và Paul Sparrow cho rằng năng lực là một tập hợp các biểu hiện hành vi gắn với một vị trí công việc để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của vị trí đó ở mức độ thành thạo [93]. Năm 1993, trong công trình Competence at work: Models for Superior Performance (Năng lực trong công việc: Mô hình cho hiệu suất vượt trội), Spencer, L.M cho rằng năng lực là khả năng một cá nhân thực thi được những yêu cầu kỹ năng bắt buộc đối với một công việc cụ thể [123]. Năm 1996, trong công trình Just What Is a Competency? (And Why Should You Care?) (Năng lực là gì? Và tại sao bạn phải quan tâm?), Parry cho rằng năng lực là tập hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ có khả năng ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành công việc của cá nhân. Năng lực có thể được đo lường thông qua các chuẩn mà cộng đồng chấp nhận và có thể được cải tiến thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng [115, tr.

công bố bài viết “Competency based management: a review of systems and approaches” (Quản lý dựa trên năng lực: xem xét các hệ thống và phương pháp tiếp cận). Có thể nói đây là một bài viết khái lược, có tính chất hệ thống về định nghĩa năng lực, khung năng lực, phát triển mô hình năng lực, phân tích hệ thống quản lý nhân lực, gợi ý những chỉ dẫn. Mục đích của bài viết là xem xét các khái niệm chính của quản lý năng lực và đề xuất phương pháp phát triển phương pháp năng lực [103]. Bài viết,“Competence Development in the Workplace: Concepts, Strategies and Effects” (Phát triển năng lực tại nơi làm việc: khái niệm, chiến lược và kết quả) của Erik Ellström, P., công bố năm 2008 [104, tr5- 20] trình bày đánh giá nghiên cứu về các chiến lược phát triển năng lực trong 13 Luận án tiên sĩ Quản lý công các tổ chức, các điều kiện tiên quyết và ảnh hưởng của chúng.

Cụ thể hơn, bài viết hướng tới giải quyết ba câu hỏi: (i) Tại sao các tổ chức đầu tư vào phát triển năng lực? (ii) Thực tế có thể đạt được những hiệu quả nào thông qua phát triển năng lực? (iii) Đặc điểm của các chiến lược phát triển năng lực thành công trong tổ chức là gì? Trước khi những câu hỏi này được giải quyết, các quan điểm khác nhau về ý nghĩa của các khái niệm năng lực và phát triển năng lực được trình bày và thảo luận. Trong công trình Competency Framework 2012 – 2017 (Khung năng lực 2012-2017) do tổ chức Nguồn nhân lực Dân sự (Civil Service human resource- Anh) công bố năm 2019 đưa quan điểm năng lực là những kỹ năng, kiến thức và hành vi dẫn đến việc thực hiện thành công. Khung năng lực phác thảo 10 năng lực, được nhóm thành 3 nhóm: Định hướng; Thu hút mọi người và mang lại kết quả. Đối với mỗi năng lực đều có phần mô tả ý nghĩa của nó trong thực tế và một số ví dụ về các hành vi hiệu quả và không hiệu quả ở mọi cấp độ [100].

Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quản lý nhân lực theo năng lực đã được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu, trong đó không thể không kể đến bài viết “The importance of improving the competence of employees in the 21st century” (Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực của nhân viên trong thế kỷ 21) của hai tác giả Ineta Lakstigala và Signe Balina công bố năm 2019. Bài viết khẳng định để nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển tư duy, tri thức sáng tạo, thích ứng với sự phát triển và yêu cầu của thế kỷ XXI - kỷ nguyên toàn cầu hoá và phát triển của CNTT, cần thường xuyên nâng cao năng lực cá nhân và năng lực nghề nghiệp. Đồng thời, cần phải chuẩn bị rằng những công việc mới sẽ được tạo ra trong tương lai, nơi sẽ cần đến những kỹ năng và kiến thức mới. Do đó, điều quan trọng là phải tập trung vào việc phát triển các kỹ năng mới trong suốt cuộc đời trong quá trình học tập [111].

Đề cập tới việc phát triển năng lực, có một số công trình tiêu biểu sau: Năm 2002, bài viết “Developing competency models to promote integrated human resource practices” (Phát triển các mô hình năng lực để thực hành nguồn nhân lực tổng hợp) của nhóm tác giả Rodriguez, D.K được công bố. Nội dung bài viết phân tích mô hình năng lực của Cục Quản lý nhân sự Mỹ (OPM), khẳng đinh rằng, bằng cách kết hợp năng lực vào các phương pháp phân tích công 14 Luận án tiên sĩ Quản lý công việc, Cục quản lý nhân sự Mỹ đã phát triển các mô hình năng lực để áp dụng vào công việc quản lý nhân sự. Tác giả Geoff Ryan (đại diện tổ chức năng lực quốc tế châu Âu) có bài viết: “Improving Competencies: a six – step plan” (Nâng cao năng lực: kế hoạch 6 bước) chỉ ra 6 bước để phát triển năng lực. Bước 1: Xác định các công việc chính hoặc quan trọng; Bước 2: Xác định độ lệch chuẩn của hiệu suất; Bước 3: Xác định các yếu tố con người làm cơ sở để thay đổi hiệu suất; Bước 4: Phát triển các trường hợp kinh doanh; Bước 5: Tiến hành đánh giá nhân viên; Bước 6: Phát triển, thực hiện và giám sát chiến lược nhân tài [121].

Mufamadi cho rằng năng lực bao gồm năng lực tổng quát, năng lực nghề nghiệp, và năng lực thương lượng. Năng lực tổng quát là năng lực chung cho các nhà quản lý. Năng lực nghề nghiệp là năng lực chuyên môn để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Năng lực thương lượng phản ánh qua mối quan hệ với các bên như Đảng, đoàn thể, hiệp hội, khu vực tư và người dân [114].

Doherty cho rằng năng lực gồm phẩm chất và một số khả năng. Về phẩm chất, đó là không vị kỷ, vì lợi ích chung của cộng đồng và không vì lợi ích của cá nhân; tính hội nhập và độc lập không để bị ảnh hưởng bởi những yếu tố không liên quan; tính khách quan; tính trách nhiệm; cởi mở; tính trung thực [102]. Theo Cục Quản lý nhân sự của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Năng lực có thể phát triển, nâng cao, và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển.

Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau [125]. KNL được sử dụng trong nhiều lĩnh vực quản lý, phát triển nguồn nhân lực. Theo Kubes và cộng sự, KNL được cấu tạo thành từ các năng lực – đó là một tập hợp các phẩm chất, khả năng, kỹ năng và những tố chất khác mà nhân viên cần có để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Trong đó, ưu tiên nhiều hơn được dành cho nhóm năng lực lãnh đạo quản lý, bởi lẽ chất lượng công tác quản lý ảnh hưởng sống còn đến sự thành công của tổ chức.

Bên cạnh đó, nhóm năng lực cốt lõi cấu thành nên KNL.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nâng cao năng lực quản lý công của Chủ tịch UBND xã tại Đồng bằng sông Cửu Long là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc cải thiện kỹ năng và hiệu quả quản lý của các Chủ tịch UBND xã trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu này nhấn mạnh các giải pháp thực tiễn để tăng cường năng lực quản lý công, từ đó góp phần phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về thách thức và cơ hội trong quản lý công, cùng với các đề xuất cụ thể để áp dụng vào thực tế.

Để mở rộng kiến thức về quản lý công và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận án tiến sĩ phối hợp trong thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế tỉnh Quảng Nam, và Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng công chức tại các sở giao thông vận tải khu vực Tây Bắc. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều và giải pháp chuyên sâu trong lĩnh vực quản lý công.