Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Phát triển nông nghiệp vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Khuyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Danh Sơn và TS. Trần Minh Yến, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số 9.10.
Về tính cấp thiết, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tạo nguồn hàng xuất khẩu thu ngoại tệ và ổn định kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên và là khu vực chịu tác động trực tiếp, sâu sắc nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH). Tại Việt Nam, Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng chịu tác động ngày càng rõ nét của BĐKH thông qua sự gia tăng tần suất, cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt, hạn hán, dông lốc, nắng nóng, rét đậm, cùng với hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn. Dải đất ven biển ĐBSH là vùng thấp trũng, chịu ảnh hưởng sớm và nặng nề nhất. Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận ở phạm vi cả nước hoặc cấp tỉnh, việc nghiên cứu phát triển nông nghiệp (PTNN) dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện gắn với bối cảnh BĐKH vùng ven biển ĐBSH vẫn còn là một khoảng trống lớn cần được giải quyết.
Mục đích nghiên cứu chung của luận án là làm rõ thực trạng phát triển nông nghiệp dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện ở vùng ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý PTNN tại địa bàn. Để hiện thực hóa mục đích chung, luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- BĐKH đã có những tác động gì tới PTNN ở khu vực ven biển ĐBSH? Tính tất yếu quản lý nhà nước về kinh tế với PTNN phải thay đổi, điều chỉnh để phù hợp là gì?
- Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN ở khu vực ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH như thế nào?
- Quản lý PTNN ở khu vực ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH đứng trước thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức nào?
- Giải pháp nào để tận dụng, phát huy thuận lợi và khắc phục, vượt qua các khó khăn, thách thức trong quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN vùng ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH?
Bốn nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng được xác lập gồm: (1) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan; (2) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN trong điều kiện BĐKH; (3) Phân tích, đánh giá thực trạng và nhận diện các vấn đề đặt ra trong quản lý PTNN vùng ven biển ĐBSH; (4) Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN vùng ven biển ĐBSH thích ứng với BĐKH.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là PTNN vùng ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH dưới góc nhìn quản lý nhà nước cấp huyện. Về phạm vi nội dung, PTNN được xem xét như kết quả ("quả") của quá trình quản lý ("nhân"); chính quyền cấp huyện là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các chính sách phát triển của Trung ương và tỉnh. Về phạm vi không gian, luận án khảo cứu 6 huyện mang đặc trưng nông nghiệp ven biển chịu tác động mạnh của BĐKH thuộc 3 tỉnh: Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình); Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định); Kim Sơn (Ninh Bình). Về phạm vi thời gian, số liệu thứ cấp được tổng hợp từ năm 2010 đến năm 2017, số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan thành các nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN cấp quốc gia và cấp tỉnh: Mai Văn Bưu (1999) trong giáo trình "Quản lý nhà nước về kinh tế" đã khái quát lý luận quản lý theo giai đoạn, phân cấp và ngành kinh tế; Đỗ Hoàng Toàn (2005) xây dựng khái niệm, công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế; Phạm Kim Giao (2013) phân tích nội dung quản lý nông nghiệp, nông thôn và hạ tầng. Nguyễn Mạnh Tuân (2005) nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với PTNN hàng hóa. Về chính sách đất đai, Sally P. Marsh, T Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng (2007) chỉ ra tình trạng đất manh mún cản trở PTNN quy mô lớn; Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) phân tích việc chia nhỏ đất đai làm chậm ứng dụng cơ giới hóa. Nguyễn Thị Xuân Lan (2007) phân tích chính sách thuế nông nghiệp; Lê Phương Hòa (2009) chỉ ra vai trò của các chính sách hỗ trợ giống, vật tư, tín dụng, khuyến nông và thị trường. Ở cấp tỉnh, Trần Đình Thảo (2017) nghiên cứu đội ngũ công chức quản lý kinh tế tỉnh Quảng Nam; Nguyễn Hoài Từ Sơn (2018) phân tích chất lượng nhân lực quản lý kinh tế tỉnh Ninh Bình. Về kinh nghiệm quốc tế, Hoàng Văn Hoa (1995) tổng kết bài học can thiệp chính sách nông nghiệp của Thái Lan.
Nhóm nghiên cứu về nội dung và công cụ quản lý chuyên ngành: Nguyễn Văn Chử nghiên cứu quản lý chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; Đặng Ngọc Lợi (1999) phân tích chức năng quản lý trong kinh tế thị trường; Trịnh Văn Khoa (2018) nghiên cứu quản lý hợp tác xã nông nghiệp; Nguyễn Thị Phong Lan (2017) nghiên cứu quản lý xuất khẩu nông sản; Nguyễn Cúc (2014) gợi mở các chính sách đất đai và đầu tư.
Nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước cấp huyện: Chu Tiến Quang (2010) trong sách chuyên khảo "Quản lý nhà nước về kinh tế của ủy ban nhân dân huyện, vấn đề và giải pháp" đã phân tích thực trạng tại huyện Lâm Thao và Nam Sách, tuy nhiên tiếp cận đa ngành và chưa đi sâu vào quan hệ giữa PTNN với BĐKH.
Nhóm nghiên cứu về tác động của BĐKH đến nông nghiệp và sinh kế: Dương Văn Khảm và Nguyễn Văn Viết (2012) phân tích các yếu tố khí hậu sống còn của cây trồng, vật nuôi; Nguyễn Văn Viết (2017) nghiên cứu tác động của BĐKH đến các phân ngành nông nghiệp và giải pháp thích ứng; Vũ Thế Khải (2017) phân tích thực trạng hạn hán, xâm nhập mặn vùng ven biển ĐBSH do thiếu nguồn nước thượng nguồn và triều cường. Vũ Thị Hoài Thu (2012) khảo sát tính dễ bị tổn thương và sinh kế bền vững tại 3 huyện Nam Trực, Giao Thủy, Xuân Trường (Nam Định); Lưu Bích Ngọc và cộng sự (2012) nghiên cứu ảnh hưởng BĐKH đến sử dụng đất và sinh kế ĐBSH; Nguyễn Mậu Dũng (2010) cảnh báo nguy cơ ngập lụt, suy giảm năng suất lúa ĐBSH đến năm 2100; Nguyễn Việt Phương và Nguyễn Đức Chính (2014) nghiên cứu nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ; Hội thảo quốc tế do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với JICA tổ chức tại Cần Thơ (2013) phân tích suy giảm năng suất và xâm nhập mặn tại ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Hầu hết các công trình tập trung ở phạm vi toàn quốc hoặc cấp tỉnh, các nghiên cứu cấp huyện còn ít; đồng thời, các nghiên cứu về ĐBSH chủ yếu tiếp cận theo góc độ nông học hoặc sinh kế mà chưa tiếp cận toàn diện dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện đối với PTNN trong bối cảnh BĐKH gia tăng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan niệm PTNN hiện đại trong nền kinh tế thị trường: PTNN là ngành sản xuất của cải vật chất dựa trên cây trồng, vật nuôi, gắn liền với chuỗi liên kết trước (thăm dò thị trường, đầu vào) và liên kết sau (thu gom, bảo quản, chế biến, tiêu thụ). Vùng ven biển được xác định theo Quyết định số 914/QĐ-TTg ngày 27/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 22/2012/TT-BTNMT ngày 26/12/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN vùng ven biển trong điều kiện BĐKH được định nghĩa là sự tác động về kinh tế của cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện (HĐND, UBND, các phòng ban chuyên môn) nhằm định hướng, tạo môi trường, hỗ trợ, kiểm tra giám sát để PTNN thích ứng với BĐKH.
Dựa trên Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV và Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV, tác giả xác định 4 nội dung quản lý nhà nước cấp huyện:
- Định hướng, tạo lập môi trường phát triển nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Tổ chức và điều hành quá trình phát triển nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu (mùa vụ, hạ tầng, vốn, kỹ thuật/khoa học công nghệ, giống chống chịu, kết nối thị trường).
- Theo dõi, giám sát, kiểm tra hoạt động kinh tế nông nghiệp (thực hiện quy hoạch, bảo vệ môi trường, cung ứng vật tư, an toàn thực phẩm).
Khung đánh giá quá trình quản lý được thiết kế theo các tiêu chí: khả năng định hướng; hoàn thiện tổ chức bộ máy và chủ thể sản xuất; kết quả thực hiện hỗ trợ quy hoạch, kế hoạch thời vụ, tập trung đất đai (dồn điền đổi thửa), ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (IPM, 3 tăng 3 giảm, 1 phải 5 giảm, VietGAP, nông nghiệp hữu cơ).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: Luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng (quan hệ chủ thể - khách thể, nguyên nhân - kết quả) kết hợp hai cách tiếp cận: từ trên xuống (top-down, quan hệ hành chính tổ chức thực thi) và từ dưới lên (bottom-up, tính chủ động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp).
Phương pháp nghiên cứu tại bàn bao gồm: thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp logic, phân tích và tổng hợp số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2017 từ Cục Thống kê các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Phòng Thống kê các huyện.
Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường sử dụng bảng hỏi khảo sát thu thập thông tin sơ cấp năm 2018, xử lý bằng phần mềm Excel:
| Đối tượng điều tra |
Quy mô mẫu |
Phân bổ địa bàn và phương thức thu thập |
| Cán bộ quản lý cấp huyện |
32 cán bộ |
Hải Hậu: 9 cán bộ (27%); Giao Thủy: 9 cán bộ (27%); Thái Thụy: 6 cán bộ (19%); Tiền Hải: 4 cán bộ (13%); Kim Sơn: 4 cán bộ (13%). Hình thức: trực tiếp 19 cán bộ (60%), gửi phiếu 13 cán bộ (40%). |
| Chủ thể sản xuất nông nghiệp |
100 đối tượng |
Thái Thụy: 18%; Hải Hậu: 18%; Tiền Hải: 17%; Giao Thủy: 17%; Nghĩa Hưng: 15%; Kim Sơn: 15%. Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo địa bàn và lĩnh vực. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 5 nhóm vấn đề: lý luận chung về quản lý kinh tế nông nghiệp; nội dung và công cụ quản lý; quản lý kinh tế cấp tỉnh và phát triển nguồn nhân lực; kinh nghiệm quản lý nông nghiệp quốc tế; tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp, sinh kế và tài nguyên đất/nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã làm rõ tính tất yếu của can thiệp nhà nước và nhận diện các tác động tiêu cực của BĐKH, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN vùng ven biển ĐBSH ở cấp huyện trong bối cảnh BĐKH gia tăng. Từ đó, chương 1 xác lập 3 vấn đề trọng tâm cần giải quyết: tác động của BĐKH và vấn đề đặt ra cho quản lý cấp huyện; các nội dung điều chỉnh quản lý thích ứng; các giải pháp quản lý kinh tế cấp huyện thích ứng với BĐKH.
Chương 2: Cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển nông nghiệp vùng ven biển trong điều kiện biến đổi khí hậu
Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi, đặc điểm và vai trò của nông nghiệp ven biển. Tác giả phân tích 3 đặc điểm đặc thù của nông nghiệp ven biển: đất đai có nguy cơ nhiễm mặn, nhiễm phèn cao; đối tượng sản xuất mang tính đặc thù (trồng trọt có cói, dừa, sú, vẹt; thủy sản nước lợ, mặn; lâm nghiệp rừng ngập mặn; diêm nghiệp); chịu tác động sớm và mạnh của BĐKH (bão gió, triều cường, nước biển dâng). Văn bản trích dẫn các dẫn chứng thiên tai như bão Chanchu (2006), Xangsane (2008 - thiệt hại 10.000 tỷ đồng, 70 người chết), Sơn Tinh (2012 - thiệt hại 7.500 tỷ đồng), Haiyan (2013), Marian (2016), cùng kịch bản nước biển dâng RCP4.5 (cuối thế kỷ XXI dâng 53-58 cm) và RCP8.5 (dâng 72-78 cm) của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (2016). Chương này xác định 4 nội dung quản lý nhà nước cấp huyện, phân tích 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng (khách quan và chủ quan), thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá quá trình và kết quả quản lý, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương trong nước.
Chương 3: Thực trạng phát triển nông nghiệp vùng ven biển đồng bằng sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu
Chương 3 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý PTNN tại 6 huyện ven biển thuộc Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Tác giả đánh giá thực trạng quản lý thông qua dữ liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2017 và dữ liệu điều tra sơ cấp năm 2018 đối với 32 cán bộ quản lý và 100 cơ sở sản xuất.
Nội dung phân tích thực trạng tập trung vào các mặt:
- Nhận thức và năng lực định hướng của chính quyền cấp huyện trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch PTNN thích ứng BĐKH.
- Tổ chức bộ máy quản lý và sự phối hợp giữa các phòng ban chuyên môn cấp huyện.
- Thực trạng tổ chức hỗ trợ người dân: thực hiện quy hoạch vùng sinh thái nông nghiệp, chuyển đổi mùa vụ; công tác dồn điền đổi thửa, tích tụ đất đai; hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật (VietGAP, IPM, giống thích ứng mặn/ngập); kết nối thị trường nông sản.
- Thực trạng kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, bảo vệ môi trường, kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Kết quả quản lý được đánh giá qua các chỉ tiêu tăng trưởng nông nghiệp, diễn biến diện tích và sản lượng cây lương thực/lúa, sản lượng thịt hơi gia súc, tăng trưởng sản lượng thủy sản, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo và diện tích rừng trồng mới ven biển giai đoạn 2010 - 2017. Bên cạnh kết quả đạt được, chương 3 chỉ rõ các hạn chế: quy hoạch còn thiếu tính dự báo trước BĐKH, dồn điền đổi thửa chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn, hạ tầng thủy lợi ngăn mặn tiêu úng chưa đồng bộ, liên kết chuỗi giá trị còn yếu.
Chương 4: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển nông nghiệp vùng ven biển đồng bằng sông Hồng
Chương 4 dự báo bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp ven biển ĐBSH trong điều kiện BĐKH, bao gồm các dự báo tác động theo kịch bản biến đổi khí hậu (RCP4.5). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng quan điểm và mục tiêu quản lý PTNN đến giai đoạn tiếp theo theo hướng bền vững, thích ứng thông minh với BĐKH. Hệ thống giải pháp quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện được đề xuất bao gồm:
- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch PTNN cấp huyện gắn với kịch bản BĐKH; chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thuận theo tự nhiên (biến vùng nhiễm mặn thành vùng nuôi trồng thủy sản giá trị cao).
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chuyên môn và tính chủ động của cán bộ quản lý nông nghiệp cấp huyện.
- Đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển: hỗ trợ dồn điền đổi thửa, tạo quỹ đất cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn; đầu tư nâng cấp hạ tầng đê kè, cống ngăn mặn, kênh mương nội đồng; hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật (IPM, VietGAP, giống chịu mặn); hỗ trợ xúc tiến thương mại và kết nối chuỗi giá trị nông sản.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quy hoạch đất đai, kiểm soát ô nhiễm môi trường nông nghiệp ven biển và quản lý chất lượng vật tư đầu vào.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế đối với PTNN vùng ven biển trong bối cảnh BĐKH, xác định rõ vị trí, vai trò của chính quyền cấp huyện trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Luận án làm rõ 4 nội dung quản lý nhà nước cấp huyện (định hướng - tạo môi trường; tổ chức - điều hành; hỗ trợ phát triển; theo dõi - giám sát - kiểm tra) và thiết lập hệ thống tiêu chí, chỉ báo đánh giá quá trình quản lý PTNN ven biển thích ứng với BĐKH.
Về mặt thực tiễn, công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng toàn diện về thực trạng phát triển nông nghiệp và năng lực quản lý nhà nước cấp huyện tại 6 huyện ven biển ĐBSH (Tiền Hải, Thái Thụy, Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng, Kim Sơn) giai đoạn 2010 - 2018. Luận án chỉ ra các điểm nghẽn thực tế trong quy hoạch thời vụ, dồn điền đổi thửa và ứng dụng kỹ thuật trước các diễn biến cực đoan của thời tiết và xâm nhập mặn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp quản lý kinh tế đồng bộ, có tính ứng dụng trực tiếp cho chính quyền cấp huyện vùng ven biển ĐBSH nhằm chuyển hóa các bất lợi của BĐKH thành lợi thế phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực địa của luận án tập trung tại 6 huyện đại diện thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình trong tổng số 20 huyện ven biển thuộc 5 tỉnh/thành phố ven biển ĐBSH. Chuỗi số liệu thứ cấp dừng lại ở mốc năm 2017 và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2018; đồng thời công trình chủ yếu xem xét quản lý PTNN dưới góc độ cấp huyện trong mối quan hệ phân cấp hiện hành.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn khảo sát sang các huyện ven biển thuộc thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh; cập nhật dữ liệu diễn biến BĐKH và xâm nhập mặn theo các kịch bản khí hậu mới nhất; đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp liên huyện, liên tỉnh trong quản lý chuỗi giá trị nông sản ven biển và quản lý rủi ro thiên tai liên vùng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với:
- Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan quản lý chuyên môn (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường) tại các huyện ven biển ĐBSH cũng như các huyện có điều kiện tự nhiên tương đồng trên cả nước, đặc biệt trong việc xây dựng quy hoạch thời vụ, kế hoạch dồn điền đổi thửa và triển khai các chương trình thích ứng BĐKH.
- Các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn ở cấp tỉnh và Trung ương trong việc hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý kinh tế nông nghiệp cho cấp huyện.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý công và Biến đổi khí hậu tham khảo khung lý thuyết, hệ thống tiêu chí đánh giá và phương pháp kết hợp điều tra sơ cấp - thứ cấp tại cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực tế tại những địa bàn cụ thể nào?
Luận án tiến hành khảo cứu số liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp tại 6 huyện ven biển thuộc 3 tỉnh ĐBSH: huyện Thái Thụy và Tiền Hải (tỉnh Thái Bình); huyện Hải Hậu, Giao Thủy và Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định); huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình).
2. Quy mô mẫu và phương pháp điều tra hiện trường của luận án được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 32 cán bộ quản lý cấp huyện (Thái Thụy 19%, Tiền Hải 13%, Hải Hậu 27%, Giao Thủy 27%, Kim Sơn 13%; gồm 60% trực tiếp và 40% gửi phiếu) và 100 chủ thể sản xuất nông nghiệp (Thái Thụy 18%, Hải Hậu 18%, Tiền Hải 17%, Giao Thủy 17%, Nghĩa Hưng 15%, Kim Sơn 15%) được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, xử lý bằng phần mềm Excel.
3. Bốn nội dung quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện đối với PTNN được luận án xác định là gì?
Bốn nội dung gồm: (1) Định hướng, tạo môi trường PTNN ứng phó với BĐKH; (2) Tổ chức và điều hành quá trình PTNN ứng phó với BĐKH; (3) Hỗ trợ PTNN ứng phó với BĐKH (mùa vụ, hạ tầng, vốn, kỹ thuật, giống, kết nối thị trường); (4) Theo dõi, giám sát, kiểm tra hoạt động kinh tế nông nghiệp.
4. Kịch bản biến đổi khí hậu nào được luận án trích dẫn để dự báo tác động đến nông nghiệp ven biển?
Luận án sử dụng Kịch bản BĐKH năm 2016 của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu với hai kịch bản phát thải: RCP4.5 (cuối thế kỷ XXI mực nước biển dâng 53-58 cm) và RCP8.5 (mực nước biển dâng 72-78 cm).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Phát triển nông nghiệp vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu" của tác giả Nguyễn Thị Khuyên là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, giải quyết vấn đề quản lý phát triển nông nghiệp cấp huyện trong bối cảnh chịu tác động gia tăng của biến đổi khí hậu. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung nội dung và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước cấp huyện, đồng thời phân tích thực chứng sâu sắc thực trạng tại 6 huyện ven biển thuộc Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống giải pháp đồng bộ, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý điều hành và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng.