phần Mở đầu, Kết Luận và Kiến nghị, Luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về làng nghề 1. Khái niệm, tiêu chuẩn xác định làng nghề Khái niệm làng nghề Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phƣơng, đặc biệt là khu vực nông thông.
Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau về làng nghề. Theo nhà nghiên cứu Phạm Sơn (2004) cho rằng, khái niệm “làng nghề” đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố: “làng” và “nghề”[15]. Khái niệm làng nghề có từ lâu đời nhằm phân biệt với khái niệm phƣờng hội ở khu vực đô thị mà đặc điểm nổi bật nhất là trình độ và công nghệ làng nghề ở khu vực nông thôn vẫn mang nặng hoạt động thủ công và gắn với sản xuất nông nghiệp. Một làng đƣợc gọi là làng nghề khi hội tụ 02 điều kiện sau: Có một số lƣợng tƣơng đối các hộ cùng sản xuất một nghề; Thu nhập do sản xuất nghề thủ công mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng.
Nhƣ vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động sản xuất các ngành nghề cũng gọi là làng nghề mà cần có quy định một số tiêu chuẩn nhất định. Theo nhà nghiên cứu Trần Minh Yến (Viện Kinh tế học Việt Nam), khái niệm “Làng nghề” là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố “làng” và “nghề”, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá [22]. Căn cứ vào Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề đƣợc hiểu nhƣ sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn nhƣ chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; sản xuất đồ gỗ, mây 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợ, thêu, ren, đan lát, cơ khí nhỏ; sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cƣ nông thôn”[8]. Nhƣ vậy, các khái niệm làng nghề ở trên chỉ ra rằng làng nghề gồm hai từ “làng” và “nghề” ghép lại.
Trong đó, “làng” dùng để chỉ cộng đồng dân cƣ sống ở nông thôn với hoạt động kinh tế truyền thống là sản xuất nông nghiệp, còn “nghề” gắn liền với hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Nhìn chung, các khái niệm làng nghề đã phản ánh đƣợc dầy đủ những đặc điểm của làng nghề ở Việt Nam. Vì đa số, làng nghề hiện nay vẫn giữ đƣợc những đặc trƣng chủ yếu nhƣ: - Làng nghề gồm một hoặc hiều cụm dân cƣ sống cùng một khu vực địa lý đƣợc gọi là làng. Làng ở đây đƣợc hiểu là thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn.
Cƣ dân của làng nghề thƣờng có quan hệ với nhau về kinh doanh lẫn dòng tộc, tạo nên mối quan hệ chặt chẽ về văn hóa, kinh tế và xã hội ở làng nghề. - Làng nghề thu hút một số lƣợng đáng kể hộ gia đình và lao động của làng tham gia sản xuất phi nông nghiệp. Nhiều hộ gia đình, lao động tham gia sản xuất và có thu nhập chính từ nghề phi nông nghiệp. Tỷ lệ số hộ, lao động tham gia sản xuất và có thu nhập từ nghề phi nông nghiệp thƣờng cao hơn nông nghiệp.
- Nghề phi nông nghiệp của làng nghề thƣờng là các ngành nghề truyền thống nhƣ: Đan lát, sơn mài, chạm khắc, gốm sứ, dệt sợi, … Làng nghề có thể có một nghề duy nhất hoặc cùng lúc có hai nghề khác nhau. Nghề phi nông nghiệp của làng nghề thƣờng phát triển qua nhiều thế hệ, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. - Làng nghề thƣờng gắn với nông thôn , với hoạt động sản xuất truyền thống là sản xuất nông nghiệp. Đa số làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Các hộ gia đình ở làng nghề có thể sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp hoặc chỉ sản xuất phi nông nghiệp. - Làng nghề sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, với mục đích là kinh doanh để thu lợi nhuận, bởi mức độ tự tiêu dùng của làng nghề rất thấp. Thị 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng của làng nghề gồm thị trƣờng nội địa và thị trƣờng xuất khẩu. Tùy theo mặt hàng mà mứcđộ tiêu thụ ở nội địa và xuất khẩu khác nhau.
- Làng nghề chủ yếu sản xuất thủ công nhƣng có thể áp dụng công nghệ sản xuất mới để cải tiến năng suất ở mức độ khác nhau, tùy theo đặc điểm sản xuất của mỗi làng nghề. Việc ứng dụng công nghệ sản xuất mới cần giữ đƣợc nét truyền thống và tính mỹ thuật của sản phẩm. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn Việt Nam đã dẫn đến sự thay đổi ở một số làng nghề. Địa bàn của một số làng nghề trở thành thành thị, không còn sản xuất nông nghiệp.
Ở làng nghề, ngoài hộ sản xuất hiện còn có sự tham gia sản xuất của hợp tác xã, doanh nghiệp tƣ nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, những thay đổi này không đáng kể, đa số làng nghề vẫn giữ đƣợc đặc điểm truyền thống. Trên thực tế, việc đƣa ra khái niệm bao quát hết đƣợc tất cả những đặc điểm của làng nghề ở Việt Nam là vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau. Do đó, việc xây dựng tiêu chuẩn làng nghề sẽ góp phần cụ thể hóa khái niệm làng nghề, giúp các cơ quan quản lý nhà nƣớc xác định làng nghề và có chính sách quản lý làng nghề phù hợp.
Tiêu chuẩn xác định làng nghề Căn cứ Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, để đƣợc công nhận các làng nghề cần đảm bảo các tiêu chí sau: - Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trƣờng làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Qua khảo sát tại các làng nghề cho thấy, ba tiêu chí để xác định làng nghề của Chính phủ là phù hợp với tình hình chung của các làng nghề ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại làng nghề Các làng nghề ở Việt Nam có đặc điểm phong phú và đa dạng về nhiều mặt nhƣ bề dày lịch sử, ngành nghề và sản phẩm.
Do đó, các làng nghề có thể đƣợc phân loại theo nhiều cách. Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng nhƣ sau: - Phân loại theo nhóm ngành nghề sản xuất và loại hình sản phẩm, làng nghề đƣợc chia thành: + Làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ + Làng nghề dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc da + Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá + Làng nghề tái chế phế liệu + Làng nghề thủ công mỹ nghệ + Các nhóm ngành khác - Phân loại theo lịch sử phát triển, các làng nghề đƣợc chia thành: + Làng nghề truyền thống: là các làng nghề xuất hiện từ lâu trong lịch sử và tồn tại đến nay. Nhiều làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm nhƣ làng gốm sứ Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc,… Làng nghề truyền thống đƣợc quy định trong Nghị định số 52/2018/NĐ-CP: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời. Theo đó, tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống.
Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Tiêu chí để công nhận nghề truyền thống bao gồm: Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.[9] + Làng nghề mới: là những làng nghề đƣợc hình thành trong thời gian gần đây và không phải là các làng nghề truyền thống. Các làng nghề này đƣợc hình thành từ các nguồn chủ yếu nhƣ: từ việc tổ chức các quan hệ gia công cho các xí nghiệp lớn, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc từ sự lan tỏa của vài hộ gia đình nhạy bén với thị trƣờng và có điều kiện đầu tƣ sản xuất; tự hình thành do nhu cầu mới của thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm và thị trƣờng nguyên liệu sẵn có; tự hình thành trên cơ sở lan tỏa từ các làng nghề khác lân cận [8]. Nhƣ vậy, làng nghề mới đƣợc hình thành do sự nhân rộng hay du nhập từ địa phƣơng khác.
Một số làng nghề mới ra đời từ chủ trƣơng của địa phƣơng để tạo việc làm cho lao động. Một số làng nghề mới nhƣ làng nghề nuôi cá sấu Thạnh Lộc (thành phố Hồ Chí Minh), làng may công nghiệp ở Sài Đồng (Hà Nội),… - Phân loại theo số lƣợng nghề, các làng nghề đƣợc chia thành: + Làng một nghề: là làng chuyên sản xuất một nghề phi nông nghiệp. Làng một nghề chiếm tỷ lệ đa số ở Việt Nam. + Làng nhiều nghề: là làng làm từ hai nghề trở lên.
Làng có nhiều nghề ít phổ biến ở Việt Nam. - Phân loại theo tình hình phát triển, các làng nghề đƣợc chia thành: + Làng nghề phát triển tốt: là các làng nghề có tình hình kinh doanh ổn định.