Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển của hệ thống làng nghề đóng vai trò trụ cột trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm tại khu vực nông thôn Việt Nam. Cả nước hiện ghi nhận 5.096 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 1.748 làng nghề truyền thống được công nhận tại 58 tỉnh, thành phố. Thủ đô Hà Nội là địa phương tập trung số lượng làng nghề lớn nhất toàn quốc với 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó 305 làng nghề được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận chính thức (bao gồm 244 làng nghề truyền thống). Khu vực làng nghề Hà Nội thu hút hơn 700.000 lao động thường xuyên, mang lại mức thu nhập bình quân khoảng 35 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,3 lần thu nhập bình quân chung của khu vực nông thôn và gấp hơn 2 lần nhóm hộ thuần nông.

Bên cạnh những đóng góp kinh tế vượt trội, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đang diễn biến phức tạp và đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh. Có tới 72% cơ sở sản xuất hoạt động ở quy mô hộ gia đình với công nghệ lạc hậu, nằm xen kẹt trong khu dân cư và chưa đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn. Sự chồng chéo trong phân công quản lý giữa các ban ngành dẫn đến việc kiểm soát nguồn thải bị buông lỏng.

Trước yêu cầu cấp bách đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng môi trường làng nghề Hà Nội và hiệu quả công tác bảo vệ môi trường theo chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trường trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018. Trên cơ sở khảo sát thực địa tại các địa bàn trọng điểm như Hoài Đức, Nam Từ Liêm, Thanh Trì, Thanh Oai, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật môi trường, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý cho hơn 175.889 hộ sản xuất trên địa bàn Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản trị môi trường công kết hợp với lý thuyết phòng ngừa tội phạm môi trường chuyên ngành trong khoa học công an. Trọng tâm nghiên cứu vận dụng quy định của Điều 3 Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014 về chức năng phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp các tiêu chuẩn xác định làng nghề quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm tiêu chí tối thiểu 20% tổng số hộ dân tham gia ngành nghề phi nông nghiệp, sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm liên tục và đáp ứng đầy đủ quy chuẩn môi trường hiện hành.

Khung phân tích tập trung làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: thiết chế kinh tế - xã hội làng nghề, ô nhiễm môi trường cục bộ, quản lý nhà nước về an ninh môi trường, điều tra cơ bản nghiệp vụ công an, và chế tài xử lý vi phạm hành chính môi trường theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP. Nghiên cứu cũng kế thừa các quy định tại Điều 70 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 để xây dựng mô hình đánh giá tương tác giữa chủ thể quản lý, lực lượng thực thi pháp luật và các cơ sở sản xuất làng nghề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2013 - 2018 của Cục Cảnh sát môi trường (C05 - Bộ Công an), Phòng Cảnh sát môi trường Công an thành phố Hà Nội (PC05) và 30 tổ Cảnh sát môi trường cấp quận, huyện với tổng số 227 cán bộ, chiến sĩ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại 5 làng nghề trọng điểm đại diện cho các nhóm ngành nghề ô nhiễm phức tạp nhất theo Quyết định số 6163/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội: làng nghề chế biến nông sản Cát Quế và Dương Liễu (huyện Hoài Đức), làng nghề bún Phú Đô (quận Nam Từ Liêm), làng nghề tái chế nhựa Triều Khúc (huyện Thanh Trì), và làng nghề cơ khí Rùa Thượng - Rùa Hạ (huyện Thanh Oai).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các điểm nóng ô nhiễm đại diện cho 8 loại hình làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quy trình phân tích dữ liệu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn sâu lãnh đạo chỉ huy các đội nghiệp vụ, và tọa đàm khoa học tại Học viện Cảnh sát nhân dân vào tháng 3/2018. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính đồng bộ giữa số liệu hành chính pháp lý và thực trạng ô nhiễm tại cơ sở, từ đó đưa ra các kết luận có giá trị thực tiễn cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm nước và không khí tại các làng nghề đã vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều lần. Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm và sơn mài mỹ nghệ, hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ như COD, BOD5 và tổng chất rắn lơ lửng (SS) cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,8 đến 3,5 lần. Trong ngành dệt nhuộm, khoảng 85% đến 90% lượng hóa chất sử dụng bị hòa tan trực tiếp vào nước thải, tạo độ màu lên tới 13.000 Pt-Co và làm biến đổi mạnh nồng độ pH của nguồn nước mặt tiếp nhận. Tại các làng nghề tái chế nhựa và kim loại, nồng độ bụi và khí độc như SO2, CO, oxit chì (PbO), oxit kẽm (ZnO) phát tán trực tiếp vào không khí xung quanh do 100% cơ sở sử dụng lò đốt thô sơ không có hệ thống hấp phụ khói thải.

Thứ hai, kết quả đấu tranh xử lý vi phạm pháp luật môi trường của lực lượng Cảnh sát môi trường đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, Phòng PC05 Hà Nội phối hợp cùng công an các quận, huyện phát hiện và xử lý 417 vụ việc với 448 đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường tại các làng nghề, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và truy thu phí bảo vệ môi trường đạt 1,5 tỷ đồng.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực chuyên trách bảo vệ môi trường làng nghề còn bộc lộ sự thiếu hụt nghiêm trọng. Ở cấp Cục C05, Phòng 6 chỉ phân công Đội 2 gồm 8 cán bộ, chiến sĩ phụ trách theo dõi toàn bộ 5.096 làng nghề trên toàn quốc. Tại Công an thành phố Hà Nội, Đội 3 thuộc Phòng PC05 chỉ có 4 cán bộ trực tiếp phụ trách mảng nông thôn và làng nghề trên toàn bộ 30 đơn vị hành chính cấp huyện. Mặc dù tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và sau đại học chiếm trên 75%, nhưng số lượng cán bộ được đào tạo bài bản về chuyên ngành kỹ thuật môi trường chỉ chiếm khoảng 10%, gây khó khăn lớn cho công tác thu mẫu và giám định tư pháp.

Thứ tư, nhận thức pháp luật và điều kiện hạ tầng kỹ thuật của các hộ sản xuất còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy trên 60% lao động làng nghề chỉ có trình độ học vấn cấp 1 và cấp 2, sản xuất mang nặng tính tự phát và thói quen tiểu nông. Hơn 72% cơ sở sản xuất có diện tích chật hẹp, không thể bố trí hệ thống thu gom, phân loại chất thải nguy hại hay xử lý nước thải tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại các làng nghề bắt nguồn từ sự phát triển tự phát trong thời gian dài mà không có quy hoạch không gian sản xuất đồng bộ. Đa số chủ cơ sở đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trước mắt, sẵn sàng sử dụng nguyên liệu giá rẻ, hóa chất tẩy rửa nồng độ cao và cắt giảm chi phí bảo hộ lao động. Vốn đầu tư của các hộ gia đình rất thấp, dẫn đến việc tiếp cận công nghệ xử lý chất thải sạch hầu như không thể thực hiện nếu không có nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan giữa loại hình sản xuất và mức độ vi phạm pháp luật, có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bố 8 nhóm ngành nghề sản xuất chính và biểu đồ cột biểu diễn số vụ xử phạt hành chính từ năm 2013 đến năm 2018. Bảng so sánh tải lượng xỉ than và lưu lượng nước thải giữa các huyện Chương Mỹ (174 làng), Phú Xuyên (125 làng) và Hoài Đức minh chứng rõ rệt sự tập trung ô nhiễm tại các vùng lõi chế biến lương thực và cơ khí kim khí. So sánh với các công trình nghiên cứu môi trường nông thôn giai đoạn trước, kết quả cho thấy dù tỷ lệ xử phạt tăng khoảng 15% mỗi năm, tính răn đe của mức phạt tiền từ 1,5 tỷ đồng chia cho 417 vụ việc (bình quân chỉ hơn 3,5 triệu đồng/vụ) là quá thấp so với chi phí đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, dẫn đến tình trạng tái phạm kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế và chính sách pháp luật môi trường làng nghề. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, sửa đổi các quy định phân công trách nhiệm quản lý nhà nước, khắc phục triệt để tình trạng trùng giẫm giữa thanh tra chuyên ngành môi trường và lực lượng Cảnh sát môi trường. Mục tiêu giai đoạn 2019 - 2022 hoàn thành việc chuẩn hóa 100% quy ước, hương ước bảo vệ môi trường tại 305 làng nghề đã được công nhận, gắn trách nhiệm pháp lý trực tiếp của chính quyền cấp xã đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Thứ hai, đổi mới và chuyên sâu hóa các biện pháp nghiệp vụ công an trong đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường. Phòng Cảnh sát môi trường CATP Hà Nội (PC05) cần chủ động thực hiện toàn diện công tác điều tra cơ bản, lập hồ sơ sưu tra và xác minh hiềm nghi đối với các cơ sở tái chế phế liệu, mạ kim loại, thuộc da có nguy cơ xả thải độc hại ra sông Nhuệ, sông Đáy. Đặt mục tiêu trong giai đoạn 2019 - 2025 tăng tỷ lệ phát hiện, xử lý các vụ việc vi phạm xả thải lén lút lên 25% đến 30% mỗi năm, đồng thời kiên quyết chuyển cơ quan điều tra khởi tố hình sự các vụ việc có dấu hiệu tội phạm môi trường.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng Cảnh sát môi trường Thủ đô. Công an thành phố Hà Nội cần bổ sung biên chế thường trực cho Đội 3 (Phòng PC05) lên mức 8 đến 10 cán bộ và tăng cường quân số cho 30 tổ Cảnh sát môi trường quận, huyện. Phấn đấu đến năm 2023 có trên 50% cán bộ chiến sĩ phụ trách địa bàn được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật trinh sát môi trường và có chứng chỉ vận hành thiết bị kiểm định hiện trường do Học viện Cảnh sát nhân dân cấp.

Thứ tư, tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện đo đạc và quan trắc di động. Bộ Công an và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần cấp kinh phí trang bị thêm 2 xe ô tô chuyên dụng tích hợp trạm kiểm định môi trường lưu động cho PC05 Hà Nội, bảo đảm khả năng đo nhanh tại chỗ khí thải lò đốt, nước thải công nghiệp và chất thải rắn nguy hại. Lộ trình đến năm 2024, 100% các tổ Cảnh sát môi trường tại 17 huyện ngoại thành được trang bị bộ vali phân tích nhanh các chỉ số COD, pH, kim loại nặng, phục vụ hiệu quả cho hoạt động lập biên bản hiện trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Lực lượng Cảnh sát môi trường và cán bộ điều tra thuộc Công an các địa phương. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình điều tra cơ bản, thu thập chứng cứ vi phạm môi trường tại địa bàn nông thôn và các giải pháp nghiệp vụ đấu tranh phòng chống tội phạm đặc thù trong làng nghề.

Nhóm 2: Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội, Phòng Tài nguyên và Môi trường tại 30 quận, huyện, thị xã và Ủy ban nhân dân cấp xã. Nghiên cứu mang đến cơ sở khoa học để hoạch định chính sách di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào cụm công nghiệp tập trung và triển khai hiệu quả Đề án bảo vệ môi trường làng nghề theo Quyết định 6163/QĐ-UBND.

Nhóm 3: Các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản trị Môi trường và Tội phạm học. Luận văn là nguồn tư liệu tham khảo toàn diện về hệ thống số liệu thực chứng, phương pháp tiếp cận liên ngành giữa khoa học môi trường và an ninh trật tự tại 1.350 làng nghề của Hà Nội.

Nhóm 4: Các doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ hộ kinh doanh cá thể tại các làng nghề truyền thống. Tài liệu giúp các chủ thể sản xuất nắm vững khung quy định pháp lý, các tiêu chuẩn xả thải theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, từ đó chủ động cải tiến quy trình công nghệ, giảm thiểu chi phí xử phạt và hướng đến mô hình sản xuất bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Lực lượng Cảnh sát môi trường có thẩm quyền kiểm tra độc lập tại các cơ sở làng nghề không? Theo Điều 3 Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014 và Nghị định số 105/2015/NĐ-CP, Cảnh sát môi trường có quyền tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có tố giác, tin báo tội phạm. Trong giai đoạn 2013 - 2017, đơn vị đã trực tiếp lập biên bản kiểm tra và xử lý 417 vụ việc vi phạm tại Hà Nội.

Những loại hình làng nghề nào tại Hà Nội gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất? Nghiên cứu chỉ ra 3 nhóm ngành gây ô nhiễm nặng nhất gồm: chế biến nông sản thực phẩm (Dương Liễu, Cát Quế) với hàm lượng chất hữu cơ vượt chuẩn từ 1,8 đến 3,5 lần; tái chế nhựa, kim loại (Triều Khúc, Rùa Hạ) phát tán nhiều khí thải độc hại và bụi oxit kim loại; cùng nhóm dệt nhuộm có độ màu nước thải lên đến 13.000 Pt-Co do 85% lượng hóa chất hòa tan vào nước.

Tại sao mức tiền xử phạt vi phạm môi trường làng nghề trong giai đoạn nghiên cứu còn thấp? Tổng số tiền phạt 1,5 tỷ đồng cho 417 vụ việc (trung bình hơn 3,5 triệu đồng/vụ) phản ánh mức xử phạt áp dụng theo quy mô hộ gia đình cá thể thường ở khung thấp. Hơn nữa, đa phần các cơ sở có doanh thu nhỏ, nhận thức pháp luật hạn chế, khiến việc áp dụng khung phạt hành chính kịch khung hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự gặp nhiều rào cản về mặt an sinh xã hội.

Biên chế Cảnh sát môi trường phụ trách các làng nghề tại Hà Nội được phân bổ ra sao? Tại Công an thành phố Hà Nội, công tác này do Đội 3 thuộc Phòng PC05 chủ trì với 4 cán bộ phụ trách lĩnh vực làng nghề nông thôn. Ở cấp quận, huyện, thị xã, lực lượng được tổ chức thành 30 tổ Cảnh sát môi trường thuộc Đội Cảnh sát kinh tế, ma túy, môi trường với tổng số 227 cán bộ chiến sĩ quản lý địa bàn.

Cần những điều kiện gì để một làng nghề được công nhận chính thức theo quy định hiện hành? Theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ, làng nghề phải đáp ứng đồng thời 3 tiêu chuẩn: tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục ổn định tối thiểu 2 năm; và tuân thủ đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường theo quy định pháp luật.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác bảo vệ môi trường làng nghề theo chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trường.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng môi trường tại 1.350 làng nghề Hà Nội, chứng minh các chỉ số ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng vượt chuẩn từ 1,8 đến 3,5 lần.
  • Tổng kết kết quả thực thi pháp luật của PC05 Hà Nội giai đoạn 2013 - 2017 với 417 vụ vi phạm bị xử lý, thu nộp ngân sách 1,5 tỷ đồng.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về nhân lực chuyên trách (chỉ 4 cán bộ phụ trách làng nghề tại PC05) và phương tiện kiểm định lưu động còn thiếu thốn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về hoàn thiện thể chế, nghiệp vụ trinh sát, kiện toàn bộ máy và trang bị phương tiện kỹ thuật giai đoạn 2019 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách và lực lượng Công an nhân dân hoàn thiện mô hình phòng ngừa tội phạm môi trường tại khu vực nông thôn. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Công an thành phố Hà Nội và Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai ngay các đợt cao điểm rà soát, xử lý dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm trong giai đoạn 2019 - 2025. Các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần chung tay hành động quyết liệt vì mục tiêu phát triển bền vững làng nghề Thủ đô ngàn năm văn hiến.