CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT): (Tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị định của Chính phủ số 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Khái niệm phần cứng Phần cứng, còn gọi là cương liệu (Tiếng Anh: hardware), là các cơ phận (vật lý) cụ thể của máy tính hay hệ thống máy tính như là màn hình, chuột, bàn phím, máy in, máy quét, vỏ máy tính, bộ nguồn, bộ vi xử lý CPU, bộ mạch chủ, các loại dây nối, loa, ổ mềm, ổ cứng, ổ CD-ROM, ổ DVD, ổ ghi, card mạng,. Hay nói khác đi phần cứng là các thiết bị vật lý đảm bảo cho máy tính hay hệ thống máy tính hoạt động bình thường. Khái niệm phần mềm Phần mềm (tiếng Việt còn được gọi là nhu liệu; tiếng Anh: software) là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào đó.
Trương Thị Hường 6 K52 Thông tin – Thư viện Khóa luận tốt nghiệp 1. Các bộ phận cấu thành của công nghệ thông tin CNTT bao gồm tất cả những bộ phận liên quan đến máy tính (phần cứng, phần mềm), các thiết bị điện tử, đường truyền dữ liệu,… giúp con người thực hiện công việc lưu trữ, truyền tải và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Nói một cách hình thức, ta có thể xem công nghệ thông tin gồm các bộ phận cấu thành như sau: - Phần cứng - Phần mềm - Công nghệ tổ chức, xử lý, lưu trữ, truyền tải thông tin 1. Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin thư viện Trong thời đại ngày nay, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin đã tác động lớn đến cuộc sống cũng như sự phát triển của xã hội.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của của công nghệ thông tin đối với sự phát triển của đất nước Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị số 58-CT/TƯ về “Đẩy mạnh công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Chỉ thị 58 khẳng định “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước”. Công nghệ thông tin đang thay thế dần các phương tiện thủ công, mọi loại hình từ quản trị một bộ máy đến cách thức tiếp nhận kiến thức của mỗi cá nhân… cũng đang từng bước được số hóa. Trong bối cảnh đó, công tác thông tin - thư viện cũng đã, đang và sẽ tiếp tục có những biến đổi sâu sắc với sự hiện hữu của công nghệ thông tin.
Áp dụng công nghệ thôngtin vào các công đoạn xử lý tài liệu, phục vụ người dùng tin, xây dựng thư viện điện tử đã trở thành xu hướng phát triển của hoạt động thông tin - thư viện toàn cầu. Thư viện điện tử đã giúp cho các thư viện triển khai phục vụ vượt ra khỏi khuôn viên của mình, các giới hạn về hạn chế người sử dụng, hạn chế thời gian phục vụ, hạn chế tài liệu phục vụ đã được vượt qua. Bất cứ người Trương Thị Hường 7 K52 Thông tin – Thư viện Khóa luận tốt nghiệp dùng tin nào, dù ở bất cứ nơi đâu, tại bất kỳ thời điểm nào đều có thể được phục vụ thông tin nếu truy cập vào một thư viện thông qua mạng máy tính. Ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện là quá trình cải biến quy trình công nghệ tổ chức, xử lý thông tin, tìm kiếm thông tin và phục vụ người dùng tin trên cơ sở sử dụng các phương tiện công cụ tin học và các phương tiện CNTT mới.
Nói cách khác là sử dụng kết quả của tin học và viễn thông vào hoạt động thông tin thư viện. Trong các cơ quan thông tin – thư viện trên thế giới cũng như ở Việt Nam việc ứng dụng CNTT đã trở thành phổ biến và đang được triển khai với tốc độ rất nhanh. Trực tiếp hay gián tiếp, các hoạt động và dịch vụ thông tin thư viện ngày nay đều dựa trên sự hỗ trợ của máy tính điện tử. Chúng ta không thể hình dung được, nếu không có máy tính điện tử, nếu không có mạng internet, intranet các thư viện, các trung tâm thông tin làm thế nào có thể cung cấp kịp thời cho người dùng tin của mình các sản phẩm và dịch vụ thông tin có chất lượng.
Chúng ta cũng không thể hình dung được nếu không có các hệ quản trị thư viện tích hợp, không có các phần mềm chuyên dụng để quản lý tài liệu, các thư viện làm thế nào có thể quản lý được một vốn tài liệu khổng lồ và vẫn đang không ngừng gia tăng với tốc độ chóng mặt. Nói vậy để thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của công nghệ thông tin và đặc biệt là các phần mềm tích hợp đang phát triển trong những năm gần đây, giúp tự động hóa các hoạt động trong thư viện, nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của các thư viện. Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan thông tin - thư viện và với cả người sử dụng. CNTT giúp cán bộ thư viện có thể chọn lọc thông tin hữu ích, xử lý tự động công tác nghiệp vụ, giúp người sử dụng có thể khai thác và tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Đồng thời các cơ quan thông tin – thư viện có thể chia sẻ nguồn lực thông tin nhằm nâng cao chất lượng Trương Thị Hường 8 K52 Thông tin – Thư viện Khóa luận tốt nghiệp phục vụ bạn đọc và mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ cho bạn đọc. Vì vậy có thể nói, CNTT có những vai trò quan trọng sau đây: Đối với các cơ quan thông tin – thư viện: - Tổ chức quản lý tài liệu, quản lý bạn đọc, thống kê số lượng bạn đọc, nâng cao năng lực phục vụ và tìm kiếm thông tin trong kho tài liệu một cách hợp lý nhanh chóng và chính xác. - Thực hiện công tác bổ sung hợp lý và có hiệu quả cao. Các trung tâm có thể dựa vào các CSDL của các nhà xuất bản, các viện nghiên cứu, các cơ quan thông tin thư viện,… cùng với các thông tin về tài liệu để tiến hành bổ sung một cách hợp lý, nhanh chóng và hữu ích.
- CNTT giúp cho việc xử lý tài liệu, trao đổi thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. - Thông qua mạng Internet các trung tâm thông tin – thư viện có thể nhận CSDL toàn văn của các tài liệu điện tử một cách nhanh chóng từ các cơ quan khác trong nước và trên thế giới. - Tổ chức chia sẻ thông tin với các thư viện khác như trao đổi các biểu ghi những tài liệu trùng với các thư viện khác, nhằm giảm chi phí xử lý tài liệu thư mục tài liệu. Tổ chức nhanh chóng việc mượn liên thư viện tạo khả năng để các thư viện liên kết với nhau cùng xây dựng các nguồn lực chung.
- Phục vụ bạn đọc một cách nhanh chóng và hiệu quả thông qua máy tính, các thiết bị điện tử và phần mềm tích hợp. Đối với người dùng tin tại thư viện - Giúp cho người dùng tin tìm tin được một cách nhanh chóng, chính xác những thông tin mình cần từ các nguồn khác nhau. Với việc sử dụng các từ khóa kết hợp trong hệ thống tra cứu tìm tin tự động trên máy tính giúp người dùng tin tiến hành nhiều phép tìm từ đơn giản đến phức tạp thỏa mãn được các nhu cầu đa dạng về thông tin mình cần. Trương Thị Hường 9 K52 Thông tin – Thư viện Khóa luận tốt nghiệp - CNTT phát triển đã tạo ra nhiều sản phẩm.
Và việc ứng dụng CNTT đã giúp cho người dùng tin có điều kiện tiếp cận với nhiều loại hình như CSDL toàn văn trên CD-ROM, CSDL trực tuyến, e-book,… giúp người sử dụng nhanh chóng được tiếp cận với các tri thức mới, mở rộng sự tiếp thu tri thức của nhân loại. Đối với cán bộ thư viện - Giúp cán bộ thư viện tìm được những tài liệu bạn đọc cần một cách nhanh chóng và chính xác làm giảm thời gian phục vụ của cán bộ thư viện và tiết kiệm thời gian chờ đợi của người dùng tin, người dùng tin được phục vụ một cách nhanh chóng và chính xác hơn. Vài nét về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thông tin thư viện trên thế giới và tại Việt Nam Trên thế giới Ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin thư viện bắt đầu được thực hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX. Mới đầu chỉ là để quản lý mục lục sách, tạo ra mục lục tự động để tra tìm tài liệu, quản lý công tác bổ sung, quản lý tài chính, tạo lập CSDL thư mục của thư viện.
Tiếp đó là tập trung vào việc lưu trữ, tìm kiếm thông tin và tạo lập ra các sản phẩm thông tin thư mục. Sau đó mở dần ra các hoạt động kỹ thuật khác, hoạt động quản lý và lưu thông tài liệu cũng như tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin. Những thuật ngữ của thời đại kỹ thuật số như là: “cổng giao tiếp điện tử”, “dịch vụ chỉ dẫn ảo”, “siêu dữ liệu”,… đã dần trở thành quen thuộc với cộng đồng cán bộ thông tin thư viện. Ngày nay có lẽ khó hình dung hoạt động thông tin thư viện tách rời việc sử dụng máy tính điện tử, kết nối mạng, truy cập Internet, khai thác CSDL trực tuyến và tạp chí điện tử.