CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN KIỂM SOÁT TRUY CẬP 1. Kiểm soát truy cập và bài toán 1. Khái niệm Truy cập được biết đến như việc truy cập các tài nguyên của một chủ thể tới một đối tượng. Kiểm soát truy cập là việc chính thức hóa các quy tắc cho phép hoặc từ chối truy cập.
Kiểm soát truy cập xác định chính xác những người có thể tương tác, những gì chủ thể có thể làm trong tương tác đó. Nó căn cứ vào cấp quyền hoặc quyền ưu đãi, đến một chủ thể liên quan đến một đối tượng. Ví dụ, hãy xem xét một nhà quản lý bận rộn với một trợ lý hành chính là những người phục vụ như một người gác cổng, quyết định ai sẽ được phép tương tác cá nhân với giám đốc điều hành và phải để lại thông điệp với các trợ lý hành chính. Trong tình huống này vị khách này là chủ thể và giám đốc điều hành là đối tương.
Trợ lý hành chính là hệ thống kiểm soát truy cập quyết định ai được phép truy cập đến điều hành. Có 3 thành phần chính của bất kỳ kịch bản kiểm soát truy cập: Chính sách : Các quy tắc chi phối người được tiếp cận với nguồn tài nguyên. Chủ thể: Người sử dụng, mạng, quá trình hoặc ứng dụng yêu cầu truy cập đến tài nguyên. Đối tượng: Các nguồn tài nguyên mà các chủ thể mong muốn được truy cập.
Bất cứ lúc nào bạn phải quyết định cho phép hoặc từ chối truy cập bởi một chủ thể tới tài nguyên của bạn là bạn đã bước vào vấn đề kiểm soát truy cập. Hệ thống kiểm soát truy cập bao gồm 3 yếu tố: 5 z Chính sách: Các quy định được phát triển bởi một người có kiến thức vững chắc của tổ chức, nó là tài sản, mục tiêu và những thách thức. Thủ tục: Phương thức không kỹ thuật được sử dụng để thực thi chính sách. Các công cụ: Các Phương pháp kỹ thuật được sử dụng để thực thi chính sách.
Các tổ chức thường sử dụng các thủ tục và các công cụ với nhau để thực thi chính sách. Ví dụ, hầu hết các công ty đều có các chính sách nghiêm ngặt để xác định ai được phép truy cập vào hồ sơ cán bộ. Những hồ sơ này chứa thông tin nhạy cảm và bí mật mà có thể được sử dụng để gây ra thiệt hai nghiêm trọng cho cán bộ, công ty cũng như toàn bộ, nếu các hồ sơ bị xâm hại. Chính sách này có thể nói rằng chỉ nhân viên trong bộ phận nguồn nhân lực, với nhu cầu cụ thể đối với thông tin chứa trong bản ghi nào đó mới có thể truy cập nó.
Để thực thi chính sách này các công ty có các thủ tục mà tình trạng của các bản ghi(hồ sơ) chỉ có thể được cung cấp cho nhân viên với các thông tin thích hợp(quá trình xác thực), họ điền vào một mẫu nêu rõ nhu cầu cụ thể của họ cho các thông tin có trong hồ sơ mà họ yêu cầu. Khi yêu cầu được chấp thuận, các nhân viên có thể được cung cấp định danh người dùng và mật khẩu để truy cập hồ sơ nhân viên trong mạng nội bộ(quá trình ủy quyền). Các trang web trong mạng nội bộ, cùng định danh người dùng và mật khẩu, là những công cụ cần thiết để cấp quyền truy cập vào hồ sơ nhân viên. Chủ thể kiểm soát truy cập: Các chủ thể trong kịch bản kiểm soát truy cập là ứng dụng cá nhân yêu cầu truy cập vào tài nguyên như mạng, hệ thống tập tin, hoặc máy in.
Có 3 loại chủ thể khi nói đến kiểm soát truy cập cho một nguồn tài nguyên cụ thể: 6 z Ủy quyền: Những người đã trình ủy nhiệm và được phê duyệt để truy cập vào các nguồn tài nguyên. Không được ủy quyền: Những người không có các thông tin thích hợp hoặc không có các đặc quyền thích hợp để truy cập tài nguyên. Không biết: Những nguời đã không trình bày bất kỳ thông tin hay sự ủy nhiệm nào cả. Không rõ họ có truy cập hoặc không.
Sự khác biệt giữa một người không biết và không được ủy quyền là sự điều chỉnh. Một không biết nặc danh, họ đã không cố gắng đăng nhập hoặc hạn chế truy cập vào nguồn tài nguyên nào. Ngay sau khi một người không biết cố gắng truy cập vào một nguồn tài nguyên hạn chế, họ phải rơi vào một trong hai loại khác là có ủy quyền và không được ủy quyền. Có 4 loại của công nghệ có thể là chủ thể cho mục đích kiểm soát truy cập: Mạng: Mạng là chủ thể khi nguồn tài nguyên trên một mạng yêu cầu truy cập vào nguồn tài nguyên trên mạng khác.
Một quy tắc tường lửa cho phép truy cập internet có thể sử dụng mạng nội bộ như một chủ thể, với internet và đối tượng. Các Hệ thống: Hệ thống là chủ thể khi một hệ thống yêu cầu truy cập vào nguồn tài nguyên trên hệ thống khác hay trên mạng. Điều này thường xảy ra khi PC nỗ lực truy cập vào một máy in trên mạng. Quá trình: Quá trình là chủ thể phổ biến nhất khi quá trình một ứng dụng yêu cầu truy cập mức độ thấp tới tập tin hệ thống.
Các ứng dụng: Ứng dụng là chủ thể khi nó cần phải truy cập vào nguồn tài nguyên bên ngoài như máy in hay mạng. Chủ thể công nghệ không có định danh người dùng và mật khẩu cách mà chủ thể con người có thể, nhưng nó có cùng thẩm quyền hay tình trạng không rõ. 7 z Đối tượng kiểm soát truy cập: Có 3 loại đối tượng được bảo vệ bằng cách kiểm soát truy cập: Thông tin: Bất kỳ loại tài sản dư liệu nào. Công nghê: Ứng dụng, hệ thống, mạng.
Vị trí vật lý: Vị trí vật lý như các tòa nhà, văn phòng. Thông tin là tài sản chung nhất của IT kiểm soát truy cập. Bạn đặt mật khẩu trên cơ sở dữ liệu và các ứng dụng để đảm bảo rằng chỉ có người được ủy quyền có thể truy cập chúng. Đối tượng công nghệ cũng quan trọng, bởi vì một người sử dụng độc hại có thể dễ dàng thỏa hiệp sự toàn vẹn dữ liệu bằng cách tấn công các công nghệ lưu trữ và sử dụng nó.
Nếu người dùng không đươc ủy quyền truy cập trái phép vào máy chủ tập tin, người dùng loại này sẽ dễ dàng ăn cắp, xóa, hoặc thay đổi dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ. Bảo mật vật lý là quá trình đảm bảo rằng không ai không có sự ủy nhiệm có thể truy cập tài nguyên vật lý, bao gồm cả phần cứng và vị trí vật lý. Nếu tất cả các máy chủ một mật khẩu để đăng nhập vào, tại sao lại hạn chế những người có thể xâm nhập vào phòng máy chủ? Câu trả lời rất đơn giản: Nếu mục tiêu người sử dụng độc hại là hạ xuống một máy chủ, họ không cần phải đăng nhập. Tất cả họ phải làm là ăn cắp nó hoặc phá hủy nó.
Quá trình kiểm soát truy cập: Có 3 bước để tiến hành kiểm soát truy cập: Xác định: Quá trình mà một chủ thể xác định chính nó để truy cập vào hệ thống điều khiển. Xác thực: Xác nhân danh tính của đối tượng. Ủy quyền: Quyết định cho phép hoặc từ chối truy cập đến một đối tượng. Ba thành phần kiểm soát truy cập thường làm việc cùng nhau trong một mối quan hệ hiệp lực và có thể được tìm thấy trong các ứng dụng, hệ điều hành, tường lửa, router, cơ sở dữ liệu, bộ điều khiển tên miền, và nhiều hơn nữa.
Ý nghĩa của kiểm soát truy cập Kiểm soát truy cập là một giải pháp của bảo mật hệ thống, nhằm: - Đảm bảo khả năng truy cập của người sử dụng - Ngăn chặn sự truy cập bất hợp pháp - Đảm bảo tính an toàn, sẵn sàng của hệ thống - Hạn chế rủi ro - Truy tìm các hoạt động có nghi vấn - Căn cứ pháp lý để bảo vệ tổ chức khi bị xâm hại hoặc xảy ra tranh chấp 1.2 Các giải pháp kiểm soát truy cập Mô hình kiểm soát truy cập được tạo ra để thực thi các quy tắc và mục tiêu của chính sách bảo mật và ra lệnh như thế nào để chủ thể có thể truy cập đối tượng. Có 3 mô hình sẽ được đề cập trong phần này: Kiểm soát truy cập tùy ý, kiểm soát truy cập bắt buộc, kiếm soát truy cập dựa trên phân vai. Kiểm soát truy cập tùy quyền[6] Được chỉ định cho một chủ thể hoặc một đối tượng. Danh sách điều khiển.
Kiểm soát truy cập tùy quyền là một chính sách truy cập mà chủ nhân của tập tin hay người chủ của một tài nguyên nào đấy tự định đoạt. Chủ nhân của nó quyết định ai là người được phép truy cập tập tin và những đặc quyền nào là những đặc quyền người đó được phép thi hành. Hai quan niệm quan trọng trong truy cập tùy quyền là: Quyền sở hữu tập tin và dữ liệu: Bất cứ một đối tượng nào trong một hệ thống cũng phải có một chủ nhân là người sở hữu nó. Chính sách truy cập các đối tượng là do chủ nhân tài nguyên quyết định - những tài nguyên bao gồm: các tập tin, các thư mục, dữ liệu, các tài nguyên của hệ thống, và các thiết bị.
Theo lý thuyết, đối tượng nào không có chủ sở hữu thì đối tượng đó bị bỏ lơ, không được bảo vệ. Thông thường thì chủ nhân của tài nguyên chính là người đã kiến tạo nên tài nguyên (như tập tin hoặc thư mục). 9 z Các quyền và phép truy cập: Đây là những quyền khống chế những thực thể tài nguyên mà chủ nhân của tài nguyên chỉ định cho mỗi một người hoặc mỗi một nhóm người dùng. Kiểm soát truy cập tùy quyền có thể được áp dụng thông qua nhiều kỹ thuật khác nhau: Danh sách kiểm soát truy cập (Access control list - ACL) định danh các quyền và phép truy cập cho ta một phương pháp linh hoạt để áp dụng quy chế điều khiển truy cập tùy quyền.
Kiểm tra truy cập trên cơ sở vai trò chỉ định tư cách nhóm hội viên dựa trên vai trò của tổ chức hoặc chức năng của các vai trò. Chiến lược này giúp tối giảm việc điều hành quản lý quyền và phép truy cập. Những quyền và phép để truy cập các đối tượng được chỉ định cho từng nhóm, hay hơn nữa, tới từng cá nhân một. Các cá nhân có thể trực thuộc một hoặc nhiều nhóm khác nhau.