Chương I: Giới thiệu tổng quan - Giới thiệu về những vấn đền liên quan đến chia sẻ tri thức trong cộng đồng ảo, lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của luận văn. Chương II: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu trước đây và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương III: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày phương pháp nghiên cứu, lý thuyết về xây dựng và đánh giá thang đo, nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu, đồng thời kiểm định các giả thuyết về độ phù hợp của mô hình nghiên cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu – Trình bày kết quả kiểm định thang đo, phân tích nhân tố, hồi quy tuyến tính và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình.
7 Chương V: Kết luận và khuyến nghị - nhận định kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 tập trung vào các khái niệm về cộng đồng ảo, chia sẻ tri thức cũng như lý thuyết vốn xã hội và tâm lý học xã hội. Khảo cứu về các mô hình nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Các khái niệm và khung lý thuyết cơ sở 2.1 Cộng đồng ảo Cộng đồng ảo (Virtual Community) là mạng xã hội trực tuyến, trong đó con người có chung sở thích, mục đích, hoặc trải nghiệm muốn thảo luận và tương tác trong không gian mạng. Các thành viên xem cộng đồng ảo như một nền tảng chia sẻ tri thức. Như vậy, cộng đồng ảo là một tập hợp xã hội trong không gian mạng. Cộng đồng ảo khuyến khích tất cả tương tác, đôi khi tập trung quanh một mối quan tâm đặc biệt hoặc chỉ đơn thuần là giao tiếp.
Các thành viên có thể tương tác thông qua những phương tiện khác nhau như: bảng tin (message boards), phòng tán gẫu (chat rooms), các trang mạng xã hội (social networking sites), hoặc thế giới ảo (virtual worlds). Lịch sử cộng đồng ảo Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thuật ngữ cộng đồng ảo (virtual community) ra đời từ cuốn sách cùng tên của Howard Rheingold, xuất bản năm 1993. Cuốn sách bàn về những trải nghiệm mà Rheingold đã có trên WELL, nhóm xã hội và khoa học thông tin giao tiếp qua trung gian máy tính. Rheingold đã chỉ ra những lợi ích tiềm năng đối với tâm lý cá nhân cũng như xã hội nói chung thuộc cộng đồng ảo.
Định nghĩa truyền thống của một cộng đồng là thực thể trong phạm vi địa lý (khu phố, làng,…). Còn cộng đồng ảo, không giống như định nghĩa ban đầu, nó thường phân tán về mặt địa lý. Nếu xem xét cộng đồng ở góc độ ranh giới là thành viên hay không thành viên thì cộng đồng ảo đúng là một cộng đồng. Cộng đồng ảo cũng giống như cộng đồng thực tế theo nghĩa cung cấp sự hỗ trợ, thông tin, tình hữu nghị và sự chấp nhận giữa những người xa lạ.
9 Cộng đồng Internet có một số lợi thế như trao đổi thông tin tức thời mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Người dùng có thể truy cập đến hàng ngàn các nhóm thảo luận chuyên đề một cách nhanh chóng. Whittaker, Issacs & O'Day (1997, p.137) xác định các thuộc tính cốt lõi của cộng đồng ảo như: o Một mục tiêu, lợi ích, nhu cầu, hoặc hoạt động chung là lý do chính để thuộc về cộng đồng; o Lặp đi lặp lại, tham gia tích cực và thường xuyên, tương tác mạnh, ràng buộc tình cảm, và các hoạt động chia sẻ giữa các thành viên; o Truy cập vào tài nguyên chia sẻ, và các chính sách xác định quyền truy cập vào các nguồn tài nguyên; o Sự tương hỗ thông tin, hỗ trợ và dịch vụ giữa các thành viên; o Ngữ cảnh chung của các quy ước xã hội, ngôn ngữ, và giao thức.2 Chia sẻ tri thức Tầm quan trọng của tri thức trong đời sống ngày càng được nhấn mạnh. Tri thức hay kiến thức (Knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục (Wikipedia, 2014).
Có nhiều lý thuyết về tri thức đã ra đời nhưng chưa có một định nghĩa nào về tri thức là tuyệt đối. Do vậy, trong khuôn khổ phạm vi đề tài, tác giả sẽ tập trung nhiều cho vấn đề chia sẻ tri thức. Chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing) là cách thức tri thức được truyền đạt tới một người khác, được hấp thu và sử dụng bởi họ. Quá trình trao đổi tri thức được dựa trên các mối quan hệ xã hội.
Nahapiet & Goshal (1998) cho rằng quá trình này được hỗ trợ mạnh mẽ bởi vốn xã hội. Chia sẻ tri thức cũng có thể được hiểu là các hoạt động giúp các cộng đồng con người làm việc với nhau, hỗ trợ việc trao đổi tri thức của họ, cho phép học tập và tăng cường khả năng của họ nhằm đạt được những mục tiêu cá nhân và tổ chức (Hsiu-Fen Lin, 2006). Phương thức chia sẻ tri thức được khái quát thành ba nhóm: Viết, Nói và Công nghệ thông tin (Lily Tsui, 2006). Viết tạo ra các sản phẩm chia sẻ tri thức lâu dài, như sách, 10 báo cáo kỹ thuật, bài nghiên cứu… Việc chia sẻ tri thức qua phương tiện nói bao gồm hội thảo, bài nói chuyện, gặp mặt… Sự ra đời của công nghệ thông tin đã thay đổi rào cản chia sẻ tri thức.
Nhiều công cụ chia sẻ dựa trên công nghệ như website, diễn đàn, email… Dựa vào sự phân loại tri thức, có thể chia các hình thức chia sẻ tri thức thành bốn dạng chính (Wikipedia, 2014): Ẩn - Ẩn: Khi người chia sẻ và người tiếp nhận giao tiếp trực tiếp với nhau (ví dụ: học nghề, giao tiếp, giảng bài.) thì việc tiếp nhận này là từ tri thức ẩn thành tri thức ẩn. Tri thức từ người này không qua trung gian mà chuyển ngay thành tri thức của người kia. Ẩn - Hiện: Một người mã hóa tri thức của mình ra thành văn bản hay các hình thức hiện hữu khác thì đó lại là quá trình tri thức từ ẩn (trong đầu người đó) trở thành hiện (văn bản, tài liệu, v. Hiện - Hiện: Tập hợp các tri thức hiện đã có để tạo ra tri thức hiện khác.
Quá trình này được thể hiện qua việc sao lưu, chuyển giao hay tổng hợp dữ liệu. Hiện - Ẩn: Tri thức từ dạng hiện trở thành dạng ẩn. Điển hình quá trình này là việc đọc sách. Học sinh đọc sách (tri thức hiện) và rút ra được các bài học, tri thức cho mình (ẩn).3 Lý thuyết vốn xã hội Vốn xã hội (Social Capital) được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn con người.
Lyda Judson Hanifan được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm vốn xã hội vào năm 1916. Ông dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân hay gia đình (Nguyễn Tuấn Anh, 2011). Vốn xã hội là thuật ngữ xuất phát từ các lý thuyết xã hội học. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm gần đây, các nhà nghiên cứu kinh tế sử dụng để giải thích các vấn đề kinh tế và quản trị.
11 Vốn xã hội có nhiều định nghĩa khác nhau. Nguyễn Trọng Hoài, Huỳnh Thanh Điền (2010) đã hệ thống khái quát các quan điểm vốn xã hội gồm các đặc trưng: (1) Vốn xã hội chỉ tồn tại khi cá nhân hoặc tổ chức tham gia mạng lưới xã hội; (2) Những cá nhân hay tổ chức tham gia mạng lưới đều nhận được lợi ích từ mạng lưới đó là sử dụng hiệu quả hoặc huy động được hoặc có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn lực khác như vật thể, tài chính, con người…; (3) Các đặc trưng của mạng lưới xã hội bao gồm nghĩa vụ và kỳ vọng dựa trên niềm tin, các chuẩn mực được thừa nhận, sự hỗ trợ lẫn nhau. Các nghiên cứu kinh tế tiếp cận vốn xã hội theo hai hướng chủ yếu là phạm vi và cấu trúc. Nahapiet & Ghosal (1998) tiếp cận cấu trúc vốn xã hội ở ba khía cạnh: cấu trúc, quan hệ và nhận thức.
Dựa trên nghiên cứu này và một số nghiên cứu khác của Putnam (2000), Wasko & Faraj (2005), Chiu & các cộng sự (2006) đã vận dụng để giải thích việc chia sẻ tri thức trong cộng đồng ảo.4 Tâm lý học xã hội Tâm lý học xã hội (Social Psychology) là khoa học nghiên cứu về cách suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người bị ảnh hưởng bởi thực tế, tưởng tượng hay ngụ ý sự có mặt của những người khác (Wikipedia, 2014). Các nhà tâm lý học xã hội thường giải thích hành vi con người là kết quả của sự tương tác của trạng thái tinh thần và tình huống xã hội hiện thời. Một số quan điểm coi ngành tâm lý học xã hội bắt đầu hình thành sau tác động của công trình nghiên cứu "Tâm lý đám đông" được Gustave le Bon giới thiệu năm 1895, và ngành này bắt đầu rõ nét từ cuối thập niên 1930 nhờ phương pháp thực nghiệm do Kurt Levin khởi xướng. Tuy nhiên, có những giáo trình ghi nhận công trình nghiên cứu của nhà khoa học Mỹ Norman Triplett vào năm 1898 là viên gạch đầu tiên cho ngành này.
Dù sao cũng cần nhắc tới đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu như kỹ sư nông nghiệp người Pháp Max Ringelmann trong thập niên 1880 phát hiện thấy khi cùng 12 chung sức kéo dây hoặc đẩy xe người ta có xu hướng ít nỗ lực hơn lúc làm một mình (Wikipedia, 2014). Tâm lý học xã hội liên quan đến cách thức cảm xúc, suy nghĩ, niềm tin, ý định và mục tiêu được xây dựng và làm thế nào các yếu tố tâm lý như vậy, lần lượt, ảnh hưởng lên sự tương tác của chúng ta với những người khác. Các nghiên cứu trước về chia sẻ tri thức trong cộng đồng ảo Các nghiên cứu trong lĩnh vực chia sẻ tri thức được các học giả ở Đài Loan tìm hiểu khá nhiều. Cụ thể: Wenpin Tsai & các cộng sự (1998) nghiên cứu sự tương quan giữa cấu trúc, mối quan hệ và nhận thức của vốn xã hội và sự trao đổi nguồn lực và động cơ sản xuất trong công ty.
Chiu & các cộng sự (2006) nghiên cứu tích hợp lý thuyết nhận thức xã hội và vốn xã hội để khám phá động lực chia sẻ tri thức trong cộng đồng ảo.