Chương I TỔNG QUAN VỀ PHÁP CHẾ THƯ VIỆN - THÔNG TIN 1. KHÁI NIỆM PHÁP CHẾ VÀ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm pháp chế Pháp chế là một phạm trù cơ bản của khoa học pháp lý. Pháp chế là một hiện tượng chính trị, pháp lý phức tạp.
Pháp chế thường được hiểu là sự hiện diện của pháp luật và yêu cầu về sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, chính xác. Khái niệm pháp chế được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhắc đến nhiều lần trong các tác phẩm của mình. Ăngghen, pháp chế là sự tuân thủ luật của những người tham gia các quan hệ xã hội. Trong thư gửi ÔGuyxtơ Beben ở Plau En Dresxden Luân Đôn (ngày 18/11/1884), Ph.
Ăngghen viết: “Chế độ chính trị hiện đang tồn tại ở châu Âu là kết quả của các cuộc cách mạng. Cơ sở của pháp chế, pháp quyền lịch sử, pháp chế ở khắp nơi đã hàng nghìn lần bị vi phạm hoặc hoàn toàn bị quẳng đi. … Chưa bao giờ cách mạng coi thường việc viện dẫn pháp chế. Ví dụ, vào năm 1830 ở Pháp, cả nhà vua (Lui Philip) lẫn giai cấp tư sản đều khẳng định rằng pháp luật ở phía họ”1.
Theo Lênin, điều quan trọng không chỉ là ở chỗ các đạo luật được ban hành, đáp ứng sự phát triển của xã hội và các đòi hỏi của quần chúng nhân dân lao động, mà điều chính yếu hơn là đưa đạo luật đó vào đời sống, làm cho nó được tuân thủ một cách chính xác, triệt để bởi tất cả mọi người: “Phải tuân theo từng ly, 1 C. Ăngghen: Toàn tập.: Chính trị quốc gia, 1995. 6 từng tý những luật lệ và mệnh lệnh của chính quyền Xô Viết và đôn đốc mọi người tuân theo”2. Như vậy, Lênin cho rằng pháp chế là sự tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh các đạo luật, sự tuân thủ này trước hết là ở các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức nhà nước.
Điều 12 Hiến pháp 1992 của nước ta ghi rõ: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Điều này có nghĩa là pháp chế có tư cách như là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội. Trong các tài liệu pháp lý của Việt Nam, thuật ngữ “pháp chế” được sử dụng chưa thống nhất. Trong giáo trình “Pháp luật đại cương” của trường Đại học Giao thông vận tải TP Hồ Chí Minh do Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 2008, định nghĩa: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác” 1.
Trong giáo trình “Pháp luật đại cương” của trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội do Nhà xuất bản Lao động - xã hội xuất bản năm 2004, định nghĩa: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là phương thức quản lý của nhà nước XHCN đối với xã hội, biểu hiện ở việc thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước các cấp, của các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, của mọi công dân đối với pháp luật được nhà nước ban hành”2. Lênin: Toàn tập. 1 Đoàn Công Thức, Nguyễn Thị Bé Hai. Pháp luật đại cương.: Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2008.
2 Giáo trình pháp luật đại cương/ Trường Đại học kinh tế quốc dân.- Nhà xuất bản Lao động-xã hội, 2004.92-95 7 Trong cuốn sách “Lý luận chung về nhà nước và pháp luật” của Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai năm 2001, định nghĩa: “Pháp chế, đó là sự đòi hỏi phải tôn trọng, thực hiện một cách nghiêm ngặt đối với các quy phạm pháp luật của các công dân, các nhà chức trách, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội dựa trên cơ sở củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa”1. Trong từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2006, định nghĩa: “Pháp chế là thể chế pháp luật được xác lập trong toàn bộ đời sống xã hội từ trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước đến các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động, sinh hoạt của mọi chủ thể pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”; “Pháp chế là toàn bộ hệ thống pháp luật và đời sống thực tiễn của pháp luật”; “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh hiến pháp, pháp luật của các cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức xã hội và mọi công dân”2. Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng thực chất của pháp chế là chế độ tuân theo pháp luật đối với toàn xã hội. Nói một cách khác, pháp chế là cơ chế quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật.
Sự tuân theo này được đặt ra thành những nguyên tắc. Để xây dựng được một nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân, để nhà nước có thể quản lý xã hội bằng pháp luật, phải tăng cường pháp chế. Muốn có một nền pháp chế vững mạnh phải thỏa mãn hai điều kiện: - Nhà nước phải xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh. - Nhà nước phải có cơ chế và biện pháp trong tổ chức thực hiện để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để.
1 Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật.: Tổng hợp Đồng Nai, 2001. 2 Từ điển luật học.: Từ điển bách khoa, Tư pháp, 2006. Khái niệm pháp luật, quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật 1.
Khái niệm pháp luật và quy phạm pháp luật a. Khái niệm pháp luật “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội”1. Pháp luật bao giờ cũng thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm thiết lập, duy trì một trật tự xã hội nhất định. Pháp luật được đặt ra để quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Do đó, mọi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng, tự giác và nghiêm chỉnh chấp hành mọi luật lệ của nhà nước. Các chức năng của pháp luật: - Ấn định tổ chức của quốc gia, của xã hội; - Điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhất: quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với nhau, giữa chính quyền và nhân dân, giữa nhân dân với nhau; - Định ra những mẫu mực, khuôn phép cho những hành động hoặc cách cư xử của nhân dân; - Xây dựng trật tự xã hội. Các thuộc tính của pháp luật: - Là quy phạm phổ biến; - Được xác định chặt chẽ về mặt hình thức; - Được bảo đảm bằng nhà nước (có tính cưỡng chế). Hệ thống pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật, thể hiện sự thống nhất nội tại của các quy phạm pháp luật và sự phân chia 1 Từ điển luật học.: Từ điển bách khoa, Tư pháp, 2006.
9 một cách khách quan các quy phạm pháp luật trong hệ thống ấy thành các ngành luật và chế định pháp luật phù hợp với tính chất, đặc điểm của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Sự hình thành hệ thống pháp luật ở mỗi thời đại, mỗi nước chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện kinh tế, chế độ chính trị - xã hội, truyền thống lịch sử, quan điểm của nhà nước về pháp luật và nguồn của pháp luật, những nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước…. Hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm hoạt động lập pháp và hoạt động lập quy. Lập pháp và lập quy là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Hoạt động lập pháp chủ yếu là hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ở nước ngoài, văn bản luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội hoặc Nghị viện ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật. Ở nước ta, theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Quốc hội là cơ quan thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại nhất của đất nước thông qua Hiến pháp và các bộ luật, luật, từ đó những vấn đề trọng đại của đất nước được các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác.
Quốc hội cũng là cơ quan duy nhất có quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp, các bộ luật, luật. Hoạt động lập quy là hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở luật và nhằm thực hiện luật, nhằm chi tiết hoá, cụ thể hoá văn bản luật để phục vụ các nhu cầu trong thực tế hoạt động quản lý nhà nước. Kết quả của hoạt động lập quy là hệ thống văn bản quy phạm dưới luật, chính sách, cơ chế, hướng dẫn thực hiện luật do chính phủ, các bộ, các chính quyền địa phương ban hành khi thực hiện quyền hành pháp của mình. 10 Trong thời gian qua, hoạt động lập pháp, lập quy của Nhà nước ta đã có những bước tiến quan trọng.
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước hữu quan khác đã cố gắng thể chế hóa nhanh chóng các Nghị quyết của Đảng, ban hành được một số lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật, bước đầu tạo được khung pháp lý để quản lý xã hội, quản lý các ngành, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế. Khái niệm quy phạm pháp luật “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội, được cơ cấu chặt chẽ để mọi người có thể đối chiếu với hành vi của mình mà có sự xử sự phù hợp trong đời sống”1. Quy phạm pháp luật là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của hệ thống pháp luật.