Tổng quan nghiên cứu

Hạn hán tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đang diễn ra ngày càng khốc liệt dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. Riêng tại tỉnh Bình Định, giai đoạn 2010 - 2015 đã ghi nhận 78.705 ha cây hoa màu bị suy giảm năng suất nghiêm trọng do khô hạn, trong đó có 7.962 ha mất trắng hoàn toàn và 94.065 hộ dân rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Thống kê từ ngành nông nghiệp địa phương cho thấy, năm 2015 toàn tỉnh có tới 11.418,6 ha lúa không chủ động được nguồn nước tưới (vụ Đông Xuân chiếm 3.122 ha, vụ Hè Thu 223 ha và vụ Mùa gieo khô chiếm 8.073,6 ha), tập trung chủ yếu tại các huyện Phù Mỹ (5.700 ha), Phù Cát (1.800 ha) và Hoài Nhơn (1.300 ha).

Trong bối cảnh phần lớn các bộ giống lúa canh tác phổ biến như ĐV108, Q5, BC15 hay Nhị ưu 838 chỉ thích hợp với điều kiện thâm canh đủ nước, việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa chống chịu hạn là yêu cầu cấp thiết. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học cây trồng của tác giả Đinh Quốc Huy, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lại Đình Hòe tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Tuyển chọn từ 1 đến 2 dòng lúa thuần có khả năng chịu hạn xuất sắc, thời gian sinh trưởng ngắn, nhiễm nhẹ sâu bệnh và đạt năng suất vượt trội để bổ sung vào cơ cấu mùa vụ tại các vùng nước trời bấp bênh ở Bình Định.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016 trên chân đất xám bạc màu tại xã Cát Tường, huyện Phù Cát. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác định được các dòng lúa ưu tú giúp gia tăng năng suất từ 15% đến 40% so với đối chứng chịu hạn chuẩn, góp phần ổn định an ninh lương thực và nâng cao thu nhập cho hàng chục nghìn nông hộ vùng hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý thuyết tiến hóa thực vật và phân loại học chi lúa Oryza sativa L., trong đó phân biệt rõ hai phân loài chính là Indica (thích ứng vùng đất thấp nhiệt đới) và Japonica (thích ứng vùng cao, ôn đới), cùng nhóm sinh thái lúa cạn Aus có khả năng chống chịu khô hạn vượt trội.

Về cơ chế sinh lý và sinh hóa học, tính chịu hạn của thực vật được giải thích thông qua khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu nội bào để duy trì thế nước tế bào. Khi gặp stress khô hạn, cây trồng kích hoạt quá trình tích lũy các chất hòa tan bảo vệ như acid amin Prolin (có thể tăng gấp 10 đến 100 lần), nồng độ ion K+, đường hòa tan, acid hữu cơ, đồng thời gia tăng hàm lượng hormone Acid Abscisic (ABA) và kích hoạt hoạt độ enzyme α-amylase nhằm giữ nước và bảo vệ tính toàn vẹn của màng sinh chất.

Ở mức độ phân tử, phản ứng chống chịu hạn gắn liền với sự biểu hiện của các nhóm gen mã hóa protein sốc nhiệt (HSPs - chiếm khoảng 1% tổng lượng protein lá khi gặp stress nhiệt) và nhóm protein LEA (Late Embryogenesis Abundant). Các protein LEA đóng vai trò cô lập ion, bảo vệ cấu trúc màng và điều hòa thẩm thấu tế bào phôi. Các nghiên cứu di truyền hiện đại cũng xác định nhiều đoạn nhiễm sắc thể định lượng (QTL) liên quan mật thiết đến tính chịu hạn tập trung trên nhiễm sắc thể số 3 và số 5 của cây lúa.

Ba khái niệm học thuật trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  1. Lúa chịu hạn (Drought-tolerant rice): Giống lúa có khả năng duy trì sinh trưởng ổn định, tỷ lệ đậu hạt cao và cho năng suất khá trong điều kiện thiếu hụt độ ẩm đất.
  2. Áp suất thẩm thấu nội bào (Intracellular osmotic pressure): Lực hút nước của tế bào sinh ra nhờ tích lũy các chất hòa tan hữu cơ và vô cơ khi đất bị khô hạn.
  3. Chỉ số phục hồi sau hạn (Drought recovery score): Tỷ lệ phần trăm và tốc độ hồi phục giải phẫu thân lá của quần thể cây lúa sau 10 ngày được cung cấp nước trở lại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn vật liệu nghiên cứu gồm 18 dòng lúa lai thuần triển vọng do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ tuyển chọn (DH83.4, DH23.1, DH26, DH137, DH36, DH69, DH71, DH266.2, DH255.1, DH118.2, DH1.3, DH1.4, C1, B2, B3, B4, C7) cùng 2 giống đối chứng: ĐV108 (đại diện cho giống sản xuất đại trà) và CH208 (giống lúa chịu hạn quốc gia).

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành đa tầng từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng:

  • Đánh giá tính chịu hạn giai đoạn nảy mầm: Sử dụng dung dịch KClO3 nồng độ 6% ngâm 50 hạt/giống trong 48 giờ để đánh giá tỷ lệ nảy mầm và sức sống rễ mầm dưới áp lực ức chế sinh hóa.
  • Đánh giá sinh khối rễ trong chậu vại: Gieo 10 cây/chậu với chế độ chăm sóc chuẩn, thu thập toàn bộ bộ rễ ở giai đoạn trỗ bông, sấy khô đến khối lượng không đổi để xác định trọng lượng rễ khô (gam).
  • Khảo nghiệm đồng ruộng: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần lặp lại theo Tiêu chuẩn Quốc gia QCVN 01-55:2011/BNNPTNT và Hệ thống đánh giá tiêu chuẩn lúa (SES) của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10 m² (2m x 5m), rãnh cách 30 cm, có dải bảo vệ cách ly tối thiểu 1m đến 3m. Đất thí nghiệm là đất xám bạc màu có độ chua cao (pHKCL = 4,9), hàm lượng chất hữu cơ trung bình (1,38%), đạm tổng số thấp (0,07%), lân dễ tiêu 6,76 mg/100g và kali tổng số 0,03%.
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu thập được phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh trung bình nghiệm thức thông qua các phần mềm chuyên ngành Statistix 8.0, IRRISTAR 5.0 và Microsoft Excel nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê ở mức xác suất sai số p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo nghiệm tập đoàn và so sánh giống qua các mùa vụ từ năm 2014 đến 2016 đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

  1. Khả năng chống chịu sinh hóa vượt bậc qua xử lý KClO3 6%: Tỷ lệ nảy mầm của 18 dòng lúa thí nghiệm dao động ấn tượng từ 54% đến 92%. Dòng B2 đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất với 92%, tiếp theo là DH266.2 (82%), C1 (82%), B4 (80%), DH69 (79%) và DH137 (78%). Hầu hết các dòng tuyển chọn đều vượt xa giống đối chứng đại trà ĐV108 (chỉ đạt 47%) và giống đối chứng chịu hạn CH208 (đạt 68%).
  2. Rút ngắn chu kỳ sinh trưởng phục vụ né hạn cuối vụ: Các dòng lúa ưu tú đều thuộc nhóm ngắn ngày đến trung ngày. Thời gian sinh trưởng trong vụ Đông Xuân dao động từ 100 đến 114 ngày và vụ Hè Thu từ 90 đến 100 ngày. Dòng DH36 (95 - 100 ngày) và dòng C1 (90 - 102 ngày) có thời gian sinh trưởng ngắn nhất, rút ngắn từ 15 đến 20 ngày so với đối chứng CH208 (115 - 120 ngày), cho phép né tránh hiệu quả các đợt nắng hạn gay gắt cuối vụ Hè Thu.
  3. Năng suất thực thu cao và ổn định trong điều kiện nước trời: Bốn dòng lúa thể hiện tiềm năng năng suất vượt trội gồm DH26 (60,8 - 80,7 tạ/ha), DH1.4 (60,5 - 82,8 tạ/ha), DH1.3 (60,0 - 75,9 tạ/ha) và DH69 (60,8 - 73,7 tạ/ha). Trong vụ Hè Thu khô hạn cực đoan, giống đối chứng CH208 chỉ đạt năng suất thực thu 37,1 tạ/ha với tỷ lệ hạt lép lên tới 40,5%, trong khi dòng DH1.3 đạt 63,0 tạ/ha (tỷ lệ lép chỉ 16,1%) và DH26 đạt trên 60,0 tạ/ha.
  4. Phẩm chất nông sinh học và chất lượng thương phẩm xuất sắc: Các dòng DH26, DH1.4, DH36 đều đạt điểm 1 về độ cứng cây (chống đổ ngã tuyệt đối), độ thoát cổ bông hoàn toàn (điểm 1), tỷ lệ phục hồi sau hạn đạt 90 - 100% (điểm 1). Khối lượng 1000 hạt của các dòng đạt từ 23,2g đến 28,9g, hàm lượng amylose đạt chuẩn cơm mềm, tỷ lệ gạo nguyên cao, đáp ứng tốt yêu cầu tiêu thụ nội địa và chế biến thương phẩm.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về năng suất của các dòng DH26 và DH1.4 bắt nguồn từ mối tương quan thuận giữa cấu trúc giải phẫu bộ rễ sâu, mật độ bó mạch phát triển và khả năng điều tiết đóng mở khí khổng nhịp nhàng. Khi gặp nhiệt độ không khí tối cao lên tới 37,7°C và lượng bốc hơi bề mặt đạt 5,4 mm/ngày trong vụ Hè Thu, các dòng lúa này duy trì độ cuộn lá ở mức thấp (điểm 0 đến điểm 3) và độ khô lá chỉ ở mức điểm 1, hạn chế tối đa hiện tượng thoái hóa bao phấn và bất thụ hạt phấn.

Dữ liệu thực nghiệm khi biểu diễn qua biểu đồ cột năng suất lý thuyết kết hợp đường tương quan năng suất thực thu đã chứng minh tính ổn định cao của các dòng DH qua 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. So sánh với các nghiên cứu chọn tạo giống lúa cạn trước đây tại Việt Nam như giống LC93-1 hay LC227 (năng suất chỉ đạt khoảng 28 đến 45 tạ/ha), các dòng DH26 và DH1.4 đạt bước tiến lớn khi tiệm cận năng suất lúa nước thâm canh (60,8 - 82,8 tạ/ha) ngay trong điều kiện hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nhanh chóng đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, luận văn đề xuất 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Triển khai sản xuất thử nghiệm trên diện rộng: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định chủ trì, phối hợp cùng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ xây dựng các mô hình cánh đồng mẫu lớn với quy mô từ 500 đến 1.000 ha trong giai đoạn 2017 - 2019 tại các xã chịu hạn nặng thuộc huyện Phù Cát, Phù Mỹ và Hoài Nhơn, sử dụng 2 dòng chủ lực DH26 và DH1.4.
  2. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước: Ban hành gói kỹ thuật canh tác đồng bộ trong vòng 12 tháng, khuyến cáo mức bón phân tối ưu trên đất xám bạc màu là 120 kg N + 60-70 kg P2O5 + 60-70 kg K2O kết hợp 1 tấn phân hữu cơ vi sinh/ha, áp dụng chế độ tưới ướt khô xen kẽ giúp tiết kiệm 20% lượng nước tưới mà vẫn đảm bảo năng suất hạt chắc trên 80%.
  3. Hoàn thiện thủ tục công nhận giống cây trồng mới: Nhóm tác giả và Viện nghiên cứu xúc tiến hoàn thiện hồ sơ khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định) và khảo nghiệm VCU (giá trị canh tác và sử dụng) cấp quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2020 để chính thức công nhận giống lúa thuần chịu hạn DH26 và DH1.4.
  4. Thiết lập chuỗi cung ứng giống cấp xác nhận: Các Trung tâm Giống cây trồng và Hợp tác xã Nông nghiệp tại Bình Định đẩy mạnh khâu nhân giống siêu nguyên chủng và nguyên chủng, hướng tới mục tiêu cung ứng giống cấp xác nhận đạt 95% diện tích gieo cấy lúa vùng khó khăn nước tưới vào vụ Hè Thu và vụ Mùa hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ quản lý nông nghiệp và chuyên viên khuyến nông: Nắm bắt cơ sở dữ liệu thực địa để tham mưu chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phân vùng rủi ro hạn hán và lập kế hoạch bố trí lịch thời vụ né hạn tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
  2. Nhà khoa học và chuyên gia chọn tạo giống cây trồng: Kế thừa nguồn vật liệu bố mẹ triển vọng (DH26, DH1.4, DH69, DH36) và ứng dụng quy trình sàng lọc sinh hóa bằng KClO3 kết hợp tiêu chuẩn SES của IRRI vào các chương trình lai tạo giống lúa kháng stress sinh học và phi sinh học.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng: Tham khảo cấu trúc thiết kế thí nghiệm nông học chuẩn mực (RCBD), phương pháp phân tích chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa lúa và kỹ năng xử lý dữ liệu thống kê qua Statistix và IRRISTAR.
  4. Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp và nông dân vùng đất cát, đất xám bạc màu: Ứng dụng trực tiếp bộ giống lúa chịu hạn ngắn ngày cùng quy trình phân bón hợp lý nhằm nâng cao năng suất mùa vụ, giảm chi phí bơm tát thủy lợi và hạn chế rủi ro mất trắng do biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc tuyển chọn giống lúa chịu hạn lại mang tính sống còn đối với sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Định?
Bình Định có hơn 11.418 ha lúa hoàn toàn không chủ động nước tưới, riêng vụ Mùa gieo khô chiếm trên 8.073 ha. Giai đoạn 2010 - 2015 đã có gần 7.962 ha cây trồng bị mất trắng do khô hạn. Việc tuyển chọn giống chịu hạn giúp duy trì sản xuất trên các chân ruộng thiếu nước, hạn chế bỏ hoang đất đai và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.

Phương pháp xử lý dung dịch KClO3 6% có vai trò gì trong việc sàng lọc giống lúa chịu hạn?
Dung dịch KClO3 tạo ra stress oxy hóa và ức chế sinh hóa tương đương với áp lực khô hạn cục bộ. Việc xử lý 50 hạt/giống trong 48 giờ giúp đánh giá nhanh chóng sức sống của phôi và mầm rễ. Các dòng đạt tỷ lệ nảy mầm cao từ 78% đến 92% (như B2, DH266.2, DH69) đều biểu hiện khả năng chịu hạn rất tốt ngoài đồng ruộng.

Những dòng lúa nào trong nghiên cứu thể hiện năng suất và khả năng chống chịu vượt trội nhất?
Dòng DH26 và DH1.4 là hai dòng ưu tú nhất. Dòng DH26 đạt năng suất từ 60,8 đến 80,7 tạ/ha, DH1.4 đạt từ 60,5 đến 82,8 tạ/ha. Cả hai dòng đều có độ thoát cổ bông tốt (điểm 1), độ cứng cây tuyệt đối (điểm 1), nhiễm nhẹ sâu bệnh và tỷ lệ hạt lép thấp (13,3% - 17,1%) ngay cả khi bị hạn trong giai đoạn làm đòng và trỗ.

Thời gian sinh trưởng của các dòng lúa mới mang lại lợi thế canh tác gì so với giống đối chứng?
Các dòng tuyển chọn có thời gian sinh trưởng vụ Hè Thu chỉ từ 90 đến 100 ngày (như DH36 đạt 95 - 100 ngày, C1 đạt 90 - 102 ngày), ngắn hơn giống đối chứng CH208 từ 15 đến 20 ngày. Việc rút ngắn chu kỳ sinh trưởng giúp cây lúa hoàn thành giai đoạn thụ phấn và vào chắc trước khi các đợt nắng hạn khốc liệt nhất diễn ra vào cuối tháng 7.

Canh tác lúa chịu hạn trên đất xám bạc màu tại Phù Cát cần lưu ý chế độ dinh dưỡng đất như thế nào?
Đất thí nghiệm tại Cát Tường, Phù Cát có phản ứng chua mạnh (pHKCL = 4,9), nghèo chất hữu cơ (1,38%) và đạm tổng số thấp (0,07%). Nông dân cần bón lót vôi bột để khử chua, bổ sung phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ vi sinh, đồng thời bón phân vô cơ cân đối theo công thức 120 kg N + 60-70 kg P2O5 + 60-70 kg K2O/ha để kích thích bộ rễ ăn sâu hút nước.

Kết luận

  • Luận văn đã sàng lọc toàn diện 18 dòng lúa lai thuần và tuyển chọn thành công 4 dòng chịu hạn triển vọng xuất sắc gồm DH26, DH1.4, DH1.3 và DH69.
  • Rút ngắn thời gian sinh trưởng vụ Hè Thu xuống còn 90 - 100 ngày, tạo tiền đề kỹ thuật then chốt để né hạn cuối vụ tại các vùng nước trời Duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Năng suất thực thu đạt mức ấn tượng từ 60,0 đến 82,8 tạ/ha trong điều kiện không chủ động tưới, vượt trội từ 15% đến 40% so với giống đối chứng CH208.
  • Xây dựng thành công quy trình đánh giá phối hợp chuẩn hóa giữa chỉ số sinh lý KClO3 6% trong phòng thí nghiệm và khảo nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn QCVN 01-55:2011/BNNPTNT.
  • Đóng góp giải pháp khoa học thực tiễn giúp tái cơ cấu cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu cho hơn 11.400 ha lúa bấp bênh nước tại tỉnh Bình Định.

Đề nghị các cơ quan chuyên môn và địa phương nhanh chóng tiếp nhận chuyển giao, mở rộng mô hình trình diễn giống DH26 và DH1.4 trong các vụ sản xuất tới nhằm bảo vệ mùa màng và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân.