Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học “Nghiên cứu trạng thái đa ngữ tại huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên” của tác giả Nguyễn Thị Thu Dung, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Trí Dõi và PGS. Vũ Thị Thanh Hương, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam (mã số: 62.25).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hiện tượng đa ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ – xã hội gắn liền với đời sống chính trị, văn hóa và sự phát triển của các quốc gia đa dân tộc. Trong bối cảnh đô thị hóa, hiện đại hóa, di dân và phân vùng kinh tế tại Việt Nam, đời sống ngôn ngữ tại các vùng dân tộc thiểu số đang chịu nhiều tác động chuyển đổi.
Huyện Mường Chà (tỉnh Điện Biên) là địa bàn miền núi có vị trí giao thông huyết mạch trên Quốc lộ 12 (kết nối Điện Biên – Lai Châu – Lào Cai), trải qua 4 lần chia tách địa giới hành chính kể từ khi chia tách tỉnh Điện Biên – Lai Châu. Đây là nơi hội tụ 11 trên tổng số 19 dân tộc của tỉnh Điện Biên (trong đó tập trung các dân tộc có dân số đông như Thái, Mông, Khơ Mú, Hoa, Kháng) và là một trong những huyện áp dụng thí điểm dạy học tiếng mẹ đẻ trong trường học. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khảo sát trường hợp về đa ngữ tại Việt Nam chủ yếu tập trung tại Cao Bằng, Sơn La, Trà Vinh, An Giang, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về trạng thái đa ngữ trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Mường Chà nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu trường hợp tại Mường Chà cung cấp các luận cứ khoa học để nhận diện thực trạng ngôn ngữ và đề xuất giải pháp bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu trạng thái đa ngữ, cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình đa ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số tại Mường Chà (gồm đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, hiện trạng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, sự hành chức của các ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của cộng đồng), từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ ở địa phương.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và giới thiệu có chọn lọc các lý thuyết liên quan đến nội dung luận án làm cơ sở lý luận.
- Thứ hai: Miêu tả và phân tích các yếu tố tác động cùng các đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ hiện nay ở Mường Chà.
- Thứ ba: Trình bày và phân tích các kết quả nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số ở Mường Chà dưới cả góc độ định tính và định lượng.
- Thứ tư: Gợi ý và đề xuất một số kiến nghị cho vấn đề bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ tại Mường Chà nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trạng thái đa ngữ ở vùng dân tộc thiểu số, bao gồm cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, hiện trạng sử dụng ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số.
- Phạm vi không gian và địa bàn khảo sát: 3 bản thuộc 3 xã của huyện Mường Chà, đại diện cho 3 dân tộc thiểu số có dân số đông nhất huyện:
- Bản Huổi Chá (xã Mường Tùng): khảo sát người dân tộc Thái (phỏng vấn 289/312 người).
- Bản Púng Giắt 1 (xã Mường Mươn): khảo sát người dân tộc Khơ Mú (phỏng vấn 312/392 người).
- Bản Huổi Mí (xã Ma Thì Hồ): khảo sát người dân tộc Mông (phỏng vấn 355/391 người).
- Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu: Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013.
- Quy mô mẫu khảo sát: Tổng số 956 người, khảo sát theo phương pháp điều tra toàn bộ nhân khẩu đủ điều kiện trong từng bản.
| Tiêu chí phân tầng xã hội |
Phân nhóm cụ thể |
Tỷ lệ trong tổng mẫu (N=956) |
| Giới tính |
Nam |
49,4% (472 người) |
|
Nữ |
50,6% (484 người) |
| Độ tuổi |
Dưới 20 tuổi |
27,1% |
|
Từ 20 đến 35 tuổi |
28,2% |
|
Từ 36 đến 50 tuổi |
25,2% |
|
Từ 51 đến 70 tuổi |
14,5% |
|
Trên 70 tuổi |
5,0% |
| Trình độ học vấn |
Không đi học |
4,0% |
|
Tiểu học |
42,7% |
|
Trung học cơ sở |
(Phân nhóm theo cấp học cao nhất) |
|
Trung học phổ thông, Sơ - Trung cấp, Cao đẳng - Đại học, Trên Đại học |
Nhóm học vấn cao chiếm tỷ lệ thấp |
| Nghề nghiệp |
Nông dân |
62,7% |
|
Học sinh, sinh viên |
24,6% |
|
Giáo viên |
0,9% |
|
Hành chính |
1,4% |
|
Công nhân, buôn bán, nội trợ, nghỉ hưu/mất sức |
Tỷ lệ nhỏ phân bố theo dân tộc |
| Tình hình kinh tế |
Khó khăn |
Mông: 96,9%; Khơ Mú: 73,2%; Thái: 21,0% |
|
Bình thường |
Thái: 76,8% |
|
Dư dả |
5 người (toàn bộ là người Thái) |
| Tần suất đi khỏi làng |
Thỉnh thoảng đi ngắn ngày (< 7 ngày/lần) |
Mông: 70,1%; Khơ Mú: 69,2%; Thái: 58,2% |
|
Thường xuyên đi trong ngày |
> 20% ở cả 3 dân tộc |
|
Không bao giờ ra khỏi làng |
Khơ Mú: 8,0%; Thái: 1,7% |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề song ngữ và đa ngữ đã được nghiên cứu từ nhiều chiều kích lý thuyết và thực nghiệm:
- Nghiên cứu lý luận nền tảng: Rene Appel và Pieter Muysken (1987, 2006) trong Language Contact and Bilingualism đã xem song ngữ là hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ trên 4 bình diện: xã hội song ngữ, người song ngữ, sử dụng ngôn ngữ và bản thân ngôn ngữ. Tej K. Bhatia và William C. Ritchie (2004, 2014) trong The Handbook of Bilingualism and Multilingualism hệ thống hóa các hiện tượng đa ngữ từ nhận thức thần kinh đến chính sách giáo dục. Peter Auer và Li Wei (2007) tổng kết về song ngữ và đa ngữ trong trường học và nơi làm việc. Sandra Lee McKay và Nancy H. Hornberger (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ học xã hội và giảng dạy ngôn ngữ. Jean-Jacques Weber và Kristine Horner (2012) khảo sát các lý thuyết đa ngữ thông qua các nghiên cứu trường hợp toàn cầu.
- Nghiên cứu trường hợp thực nghiệm: Joshua Fishman (1964, 1965, 1968, 1972, 1991) đề xuất mô hình các lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ (domain analysis). Susan Gal (1979) nghiên cứu sự chuyển dịch ngôn ngữ giữa tiếng Hungary và tiếng Đức tại Oberwart (Áo). B. G. Misra và H. R. Dua (1980) khảo sát xã hội học ngôn ngữ quy mô lớn tại bang Himachal Pradesh (Ấn Độ). M. Krueger (1986) nghiên cứu thái độ ngôn ngữ của cộng đồng nói tiếng Gujarati tại Ấn Độ. S. Anonby (2004) khảo sát việc bảo tồn ngôn ngữ Xokleng tại Santa Catarina (Brazil). Ramzi Nahhas (2007) nghiên cứu sức sống ngôn ngữ của người nói tiếng Mpi tại Thái Lan. Tại Trung Quốc, các nghiên cứu trường hợp tiêu biểu gồm Zhuofu Zhang (2001) tại Macao, Hongyan Yang (2013) tại Lệ Giang và công trình tổng hợp của Sihua Liang (2014).
Các hướng nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về song ngữ và đa ngữ tại Việt Nam phát triển theo hai hướng chính:
- Hướng tiếp cận vĩ mô: Các công trình của Hoàng Tuệ (1992), Nguyễn Văn Khang (1999, 2012), Hoàng Văn Hành (2002a), Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Lợi, Lý Toàn Thắng xem xét mối quan hệ giữa tiếp xúc ngôn ngữ, quy hoạch ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ quốc gia. Tác giả Bùi Khánh Thế (2013) và Phan Ngọc (1983, 2011) luận giải sâu về ngôn ngữ học tiếp xúc và cơ chế song ngữ tại Đông Nam Á.
- Hướng tiếp cận vi mô và nghiên cứu trường hợp: Khảo sát thực trạng song ngữ giữa tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số của Bùi Khánh Thế và Đặng Thanh Phương (1979), Hoàng Văn An (1981), Vương Toàn (1986); loạt nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ Nùng, Thái, Mường của Viện Ngôn ngữ học (2002a, 2002b); nghiên cứu tiếng Thái của nhóm tác giả Vũ Bá Hùng, Phạm Văn Hảo, Hà Quang Năng; nghiên cứu người Mường của Nguyễn Văn Khang; người Tày của Đặng Thanh Phương và Hà Thị Tuyết Nga; người Thái, Mông, Dao của Nguyễn Hữu Hoành và Tạ Văn Thông; người Hoa của Hoàng Quốc; người Khmer của Đinh Lư Giang và Nguyễn Thị Huệ; nghiên cứu tại Hòa An (Cao Bằng) của Nguyễn Hoàng Lan; nghiên cứu giáo dục ngôn ngữ tại Yên Bái của Phạm Văn Trường cùng các bài viết của Vũ Thị Thanh Hương, Vũ Hương Giang.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Bổ sung dữ liệu thực nghiệm về trạng thái đa ngữ tại tỉnh Điện Biên và huyện Mường Chà – một địa bàn có tính chất điển hình về tiếp xúc ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc nhưng chưa từng được khảo sát hệ thống.
- Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước (thường chỉ khảo sát một cặp song ngữ riêng lẻ như Khmer – Việt hay Tày – Việt) bằng việc so sánh, đối chiếu đồng thời 3 nhóm dân tộc (Thái, Mông, Khơ Mú) cùng sinh sống trên một địa bàn hành chính để làm rõ tương quan vị thế và chức năng giao tiếp.
- Đưa biến số "tình hình kinh tế gia đình" và "mức độ thường xuyên đi khỏi làng" vào phân tích định lượng tương quan với năng lực và thái độ ngôn ngữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm đa ngữ (Multilingualism / Bilingualism): Đồng nhất khái niệm song ngữ và đa ngữ theo cách hiểu của từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics (1994), Tej K. Bhatia, Li Wei, Jean-Jacques Weber và Kristine Horner: là sự hiểu biết và sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ bởi một cá nhân hoặc một cộng đồng xã hội. Luận án phân biệt hai cấp độ: song ngữ cá nhân và song ngữ xã hội.
- Khái niệm tiếng mẹ đẻ: Tiếp cận theo định nghĩa của UNESCO, coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ mà con người tiếp thu trong những năm đầu đời, làm công cụ tư duy tự nhiên. Trong phạm vi khảo sát thực tế, toàn bộ người dân được phỏng vấn đều xác định tiếng mẹ đẻ trùng với tiếng của tộc người mình.
- Cảnh huống ngôn ngữ (Linguistic situation): Sử dụng khung phân tích của Charles A. Ferguson (1959) và Joshua Fishman (1972) về chức năng, vị thế ngôn ngữ và các lĩnh vực giao tiếp xã hội (gia đình, cộng đồng, nơi làm việc, hành chính, trường học).
- Phân loại trạng thái đa ngữ theo GS.TS Trần Trí Dõi:
- Đa ngữ bình đẳng (đa ngữ cân bằng): Các ngôn ngữ có trình độ phát triển và chức năng giao tiếp ngang nhau; người nói sử dụng thành thạo cả tiếng mẹ đẻ và tiếng phổ thông.
- Đa ngữ bất bình đẳng (đa ngữ ưu thế): Một ngôn ngữ vượt trội và lấn át chức năng của các ngôn ngữ khác (thường gặp ở người dân tộc thiểu số sống tại đô thị hoặc các nhóm rất ít người sống xen cài).
- Đa ngữ tự nhiên: Người dân sử dụng tiếng mẹ đẻ là chính nhưng chủ yếu ở dạng nói; ngôn ngữ thứ hai (tiếng Việt) chỉ nắm ở mức độ giao tiếp thông thường, chưa hoàn chỉnh cả hai ngôn ngữ.
- Năng lực và thái độ ngôn ngữ: Đánh giá năng lực 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ tộc người khác; phân tích thái độ đối với việc duy trì tiếng mẹ đẻ, việc học chữ viết dân tộc, việc học tiếng Việt, ngôn ngữ trong trường học và trong hôn nhân.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp ngôn ngữ học điền dã và ngôn ngữ học xã hội: Tiến hành khảo sát thực địa thông qua bảng câu hỏi (anket) gồm 36 câu, cấu trúc thành 3 phần chính: (1) Năng lực ngôn ngữ, (2) Môi trường sử dụng ngôn ngữ, (3) Thái độ ngôn ngữ. Kết hợp anket với quan sát tham dự và phỏng vấn sâu các tình huống giao tiếp.
- Phương pháp miêu tả định lượng kết hợp phân tích định tính: Tổng hợp số liệu theo các biến phân tầng xã hội (dân tộc, giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, mức độ ra khỏi làng).
- Công cụ và phần mềm hỗ trợ:
- Phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences): Dùng để nhập liệu, quản lý và phân tích thống kê định lượng các biến số ngôn ngữ – xã hội.
- Phần mềm QGIS (Quantum GIS): Xử lý dữ liệu không gian, biên soạn bản đồ hành chính và bản đồ phân bố ngôn ngữ huyện Mường Chà dựa trên ảnh vệ tinh.
Nguồn tư liệu và quy trình chọn mẫu
Tư liệu khảo sát trực tiếp từ 956 người dân thuộc 3 dân tộc (Thái: 289 người, Khơ Mú: 312 người, Mông: 355 người) tại 3 bản Huổi Chá, Púng Giắt 1 và Huổi Mí trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013. Luận án áp dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát toàn bộ cư dân trong bản thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên toàn huyện nhằm phản ánh đúng cơ cấu nhân khẩu học thực tế tại từng cộng đồng cư trú thuần nhất tộc người.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục đích, 4 nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi khảo sát (3 xã Mường Tùng, Mường Mươn, Ma Thì Hồ thuộc huyện Mường Chà), các phương pháp nghiên cứu (điền dã, ngôn ngữ học xã hội, xử lý định lượng bằng SPSS, lập bản đồ bằng QGIS), nguồn dữ liệu khảo sát 956 người, đóng góp khoa học và bố cục của luận án.
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu song ngữ, đa ngữ trong và ngoài nước; phân tích mối quan hệ giữa tiếp xúc ngôn ngữ và trạng thái song ngữ; trình bày các khái niệm công cụ: song ngữ cá nhân, song ngữ xã hội, tiếng mẹ đẻ, cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ. Xác lập khung lý thuyết với 3 trạng thái đa ngữ (bình đẳng, bất bình đẳng, tự nhiên) theo quan điểm của Trần Trí Dõi để làm cơ sở phân tích dữ liệu thực địa tại Mường Chà.
Chương 2. Cảnh huống ngôn ngữ ở huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Trình bày các yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, biến động địa giới hành chính và phân bố dân cư tác động đến cảnh huống ngôn ngữ tại Mường Chà. Phân tích chính sách ngôn ngữ của Trung ương và địa phương đối với vùng dân tộc thiểu số. Miêu tả chi tiết đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ:
- Số lượng và quy mô dân số: Thống kê sự có mặt của 11 dân tộc trên địa bàn huyện.
- Nguồn gốc và loại hình: Phân loại các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ Nam Á (nhóm Việt - Mường, Môn - Khmer), Hmong - Miền, Tai - Kadai, Hán - Tạng.
- Chức năng và sự phân bố: Trình bày sự phân công chức năng giữa tiếng phổ thông (tiếng Việt - ngôn ngữ quốc gia, hành chính, giáo dục), ngôn ngữ vùng (tiếng Thái - phương tiện giao tiếp liên dân tộc truyền thống) và tiếng mẹ đẻ của từng tộc người (Mông, Khơ Mú). Đi kèm hệ thống Bản đồ 2.1 (hành chính) và Bản đồ 2.2 (phân bố ngôn ngữ).
Chương 3. Năng lực ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số ở huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Trình bày các kết quả phân tích thống kê định lượng từ 28 bảng biểu dữ liệu:
- Năng lực ngôn ngữ:
- Năng lực tiếng Việt: Đánh giá theo giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, kinh tế và mức độ ra khỏi làng. Tỷ lệ thông thạo tiếng Việt cao nhất ở người Thái, tiếp đến là người Mông và thấp nhất ở người Khơ Mú.
- Năng lực tiếng mẹ đẻ: Duy trì tốt ở dạng nói trong cả 3 dân tộc. Tỷ lệ biết chữ viết tiếng mẹ đẻ ở mức rất thấp (dưới 30% ở các dân tộc có chữ viết).
- Năng lực ngôn ngữ dân tộc khác: Khả năng sử dụng tiếng Thái như một ngôn ngữ giao tiếp liên dân tộc của người Khơ Mú và người Mông.
- Tình hình sử dụng ngôn ngữ:
- Trong giao tiếp gia đình (với ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái) và trong các ngữ cảnh sinh hoạt nội bộ: tiếng mẹ đẻ chiếm ưu thế tuyệt đối.
- Trong giao tiếp cộng đồng, giao tiếp nơi công cộng, nơi làm việc, mua bán tại chợ và giao tiếp hành chính: có sự phân hóa rõ nét giữa tiếng Việt, tiếng Thái và tiếng mẹ đẻ tùy theo đối tượng tiếp xúc.
- Thái độ ngôn ngữ:
- Đánh giá thái độ đối với mục đích học và nói tiếng Việt (coi tiếng Việt là công cụ phát triển kinh tế, nâng cao học vấn).
- Thái độ đối với việc học chữ viết và duy trì tiếng mẹ đẻ (mong muốn bảo tồn bản sắc tộc người).
- Thái độ đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong trường học và việc sử dụng ngôn ngữ trong quan hệ hôn nhân.
- Đề xuất và kiến nghị: Đưa ra các nhóm giải pháp về chính sách chung, công tác giáo dục song ngữ xen kẽ và công tác nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc tại địa phương.
Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các phát hiện chính của luận án về trạng thái đa ngữ tự nhiên đang chuyển dịch tại Mường Chà; khẳng định ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài; đề xuất các khuyến nghị cụ thể đối với các cơ quan quản lý nhà nước và ngành giáo dục trong việc bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ tại Điện Biên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng về trạng thái đa ngữ xã hội ở vùng dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc dưới tác động của quá trình phân vùng kinh tế, di dân và đô thị hóa.
- Làm rõ cơ chế vận hành của mô hình đa ngữ tiếng mẹ đẻ – ngôn ngữ vùng (tiếng Thái) – ngôn ngữ quốc gia (tiếng Việt) trong một không gian địa lý đa tộc người cụ thể.
- Kiểm chứng và làm sáng tỏ lý thuyết về 3 trạng thái đa ngữ (đặc biệt là trạng thái đa ngữ tự nhiên) trong bối cảnh các biến số kinh tế và tần suất di chuyển ra khỏi làng có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực và thái độ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng bộ tư liệu ngôn ngữ học xã hội có giá trị thực chứng với 956 phiếu điều tra chi tiết, phản ánh toàn diện năng lực, môi trường sử dụng và thái độ ngôn ngữ của 3 dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú tại Mường Chà.
- Cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền huyện Mường Chà và tỉnh Điện Biên đánh giá thực trạng đời sống tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó hoạch định chính sách dân tộc và ngôn ngữ phù hợp.
- Đóng góp luận cứ thực tế cho ngành giáo dục trong việc triển khai các chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ trong trường tiểu học và thiết kế mô hình giáo dục song ngữ xen kẽ phù hợp với từng đối tượng học sinh dân tộc thiểu số.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về chính sách chung: Xây dựng và thực thi các chính sách bảo tồn, phát huy ngôn ngữ và chữ viết dân tộc thiểu số gắn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Về công tác giáo dục: Xác định phương pháp giáo dục song ngữ xen kẽ (tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt) một cách bài bản, chuẩn bị kỹ lưỡng về chương trình, sách giáo khoa và đội ngũ giáo viên trước khi nhân rộng các dự án thí điểm dạy tiếng dân tộc.
- Về nghiên cứu: Tiếp tục điều tra, miêu tả có hệ thống các ngôn ngữ dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên, đặc biệt là các ngôn ngữ có số lượng người nói ít và đang có nguy cơ mai một.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do ngôn ngữ là hiện tượng xã hội phức tạp chịu tác động của nhiều yếu tố, việc khảo sát đối tượng trong khoảng thời gian nhất định (từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013) với mẫu khảo sát tập trung tại 3 bản của 3 xã (dù đạt 956 người) vẫn chưa thể bao quát toàn bộ sự đa dạng của tất cả các cộng đồng dân cư khác trên toàn địa bàn huyện và tỉnh Điện Biên.
- Mẫu khảo sát được chọn theo cụm bản điển hình nhằm bảo đảm tính toàn vẹn nhân khẩu của bản, do đó tính đại diện thống kê trên quy mô toàn tỉnh vẫn mang tính tương đối.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa bàn khác của tỉnh Điện Biên và các tỉnh lân cận ở khu vực Tây Bắc.
- Đi sâu nghiên cứu các khía cạnh tiếp xúc ngôn ngữ chuyên biệt như hiện tượng chuyển mã, trộn mã, giao thoa và vay mượn từ vựng trong lời nói hàng ngày của người song ngữ/đa ngữ.
- Khảo sát sâu hơn tác động của công nghệ thông tin, internet và truyền thông đại chúng đối với sự biến đổi năng lực và thái độ ngôn ngữ của thế hệ trẻ người dân tộc thiểu số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Nhân học, Dân tộc học: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận đa ngữ, phương pháp thiết kế anket điều tra điền dã 36 câu hỏi, quy trình chọn mẫu toàn bộ nhân khẩu trong bản làng và kỹ thuật xử lý dữ liệu ngôn ngữ – xã hội bằng phần mềm SPSS kết hợp QGIS.
- Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên vùng dân tộc thiểu số: Tham khảo dữ liệu thực trạng về năng lực tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc thiểu số để xây dựng phương pháp giảng dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai và thực hiện giáo dục song ngữ phù hợp.
- Cơ quan hoạch định chính sách dân tộc và văn hóa tỉnh Điện Biên: Sử dụng các số liệu thực chứng và bản đồ phân bố ngôn ngữ để xây dựng kế hoạch bảo tồn tiếng nói, chữ viết và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực địa tại những địa bàn cụ thể nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?
Luận án khảo sát trực tiếp tại 3 bản thuộc 3 xã của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên:
- Bản Huổi Chá (xã Mường Tùng): khảo sát 289 người dân tộc Thái.
- Bản Púng Giắt 1 (xã Mường Mươn): khảo sát 312 người dân tộc Khơ Mú.
- Bản Huổi Mí (xã Ma Thì Hồ): khảo sát 355 người dân tộc Mông.
Tổng số mẫu khảo sát là 956 người, thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn toàn bộ nhân khẩu đủ điều kiện trong bản từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013.
2. Tác giả sử dụng các phương pháp và công cụ phần mềm nào để thu thập và xử lý dữ liệu?
Tác giả sử dụng phương pháp ngôn ngữ học điền dã và ngôn ngữ học xã hội với bảng anket 36 câu (gồm 3 phần: Năng lực ngôn ngữ, Môi trường sử dụng ngôn ngữ, Thái độ ngôn ngữ), kết hợp quan sát và phỏng vấn sâu. Dữ liệu định lượng được nhập và phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS; bản đồ hành chính và bản đồ phân bố ngôn ngữ được xây dựng bằng phần mềm GIS mã nguồn mở QGIS.
3. Khung lý thuyết của luận án phân loại các trạng thái đa ngữ ở vùng dân tộc thiểu số ra sao?
Luận án dựa trên lý thuyết của GS.TS Trần Trí Dõi, phân chia thành 3 trạng thái:
- Đa ngữ bình đẳng (cân bằng): Các ngôn ngữ có chức năng và mức độ sử dụng ngang nhau, cá nhân thành thạo cả hai ngôn ngữ.
- Đa ngữ bất bình đẳng (ưu thế): Một ngôn ngữ vượt trội và lấn át chức năng của ngôn ngữ khác (như tiếng Việt lấn át tiếng mẹ đẻ ở đô thị).
- Đa ngữ tự nhiên: Người dân sử dụng tiếng mẹ đẻ chủ yếu ở dạng nói (chưa hoàn chỉnh dạng viết), tiếng Việt sử dụng ở mức độ giao tiếp thông thường, không có ngôn ngữ nào đạt mức độ hoàn hảo.
4. Luận án chỉ ra sự khác biệt nào về kinh tế và tần suất đi khỏi làng giữa ba dân tộc khảo sát?
- Về kinh tế: Gia đình người Mông (96,9%) và Khơ Mú (73,2%) thuộc diện khó khăn chiếm tỷ lệ rất cao; trong khi người Thái có mức sống bình thường chiếm 76,8% và có 5 trường hợp tự nhận dư dả (đều là người Thái).
- Về tần suất đi khỏi làng: Phần lớn người dân cả 3 dân tộc thỉnh thoảng đi ngắn ngày (< 7 ngày/lần: Mông 70,1%, Khơ Mú 69,2%, Thái 58,2%). Tỷ lệ không bao giờ ra khỏi làng cao nhất ở người Khơ Mú (8,0%) và thấp nhất ở người Thái (1,7%). Người Thái có mức độ đi lại và giao lưu bên ngoài cao nhất.
5. Thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong các môi trường giao tiếp diễn ra như thế nào?
Trong môi trường gia đình và sinh hoạt bản làng hàng ngày, tiếng mẹ đẻ của cả 3 dân tộc chiếm vị thế chi phối tuyệt đối. Ngược lại, trong các môi trường giao tiếp chính thức, hành chính, trường học và giao tiếp với cán bộ, người ngoài bản, tiếng Việt giữ vai trò chủ đạo. Riêng tiếng Thái còn đóng vai trò như một ngôn ngữ vùng phục vụ giao tiếp liên dân tộc giữa người Thái, Khơ Mú và Mông trong một số hoạt động trao đổi, buôn bán tại địa phương.
Kết luận
Luận án “Nghiên cứu trạng thái đa ngữ tại huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên” của Nguyễn Thị Thu Dung là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội về bức tranh đa ngữ tại một địa bàn miền núi Tây Bắc. Thông qua hệ thống dữ liệu khảo sát 956 người dân thuộc 3 tộc người Thái, Mông, Khơ Mú, luận án đã làm rõ các yếu tố tác động, đặc điểm cảnh huống, năng lực, phạm vi sử dụng và thái độ ngôn ngữ của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu xác định trạng thái đa ngữ tại địa phương mang tính chất đa ngữ tự nhiên đang trong quá trình chuyển biến dưới tác động của kinh tế – xã hội. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng phục vụ công tác quy hoạch chính sách ngôn ngữ và giáo dục song ngữ ở vùng dân tộc thiểu số.