Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Khái niệm về tội phạm Tại Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của nước CHXHCNVN đã đưa ra khái niệm tội phạm. Và theo định nghĩa tại Điều 8 của BLHS cho thấy, tội phạm khác với những hành vi không phải là tội phạm bằng bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản là: (1) Nguy hiểm cho xã hội; (2) có lỗi; (3) trái pháp luật hình sự; (4) phải chịu hình phạt [12, tr.
* Về tính nguy hiểm cho xã hội Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định mới được coi là tội phạm. Đây là dấu hiệu bản chất, nội dung cơ bản, quan trọng nhất, quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm. Dưới dạng chung nhất, những quan hệ xã hội đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tội phạm là những hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội này [12, tr.
Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm xác định đặc tính về chất của thiệt hại do tội phạm gây ra. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện đặc tính về chất của tội phạm, còn mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là sự thể hiện về lượng nhất định của cùng một chất - tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Điều đó có nghĩa là khái niệm “tính chất” và “mức độ” 8 Luan van nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại cùng nhau, bổ sung cho nhau, xâm nhập vào nhau và trong thể thống nhất thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm [12, tr. * Về tính có lỗi của hành vi Theo Điều 8 BLHS 2015 thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”.
Như vậy, lỗi là một dấu hiệu độc lập của tội phạm [12, tr. Với tư cách là một dấu hiệu độc lập của tội phạm, tính có lỗi của hành vi không chấp nhận việc quy tội khách quan. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước có mục đích giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm mới, nhưng các mục đích đó chỉ có thể đạt được, nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội [12, tr. * Tính trái pháp luật hình sự Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015, tính trái pháp luật hình sự hay tính được quy định trong pháp luật Hình sự là một dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
Tính trái pháp luật hình sự của hành vi có thể được thực hiện cả ở trường hợp người nào đó không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tính trái pháp luật hình sự là sự thể hiện về mặt pháp lý của các dấu hiệu về mặt nội dung của tội phạm trong pháp luật hình sự [12, tr. * Tính chịu hình phạt Tính chịu hình phạt là một dấu hiệu của tội phạm nhưng dấu hiệu này không phải là dấu hiệu nằm trong nội dung của tội phạm như tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính trái pháp luật hình sự. Tính chịu hình phạt được coi là một dấu hiệu bắt buộc của tội phạm vì nó được xác định bởi chính các thuộc tính bên trong của tội phạm.
Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện 9 Luan van pháp trách nhiệm là hình phạt. Không phạm tội thì cũng không có hình phạt [12, tr. Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 của BLHS đã định nghĩa một cách đầy đủ về tội phạm; thể hiện tính khoa học và phản ánh đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm về nội dung và về hình thức pháp lý; thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm. Nó không chỉ là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong phân loại các tội phạm của BLHS nước ta mà còn là cơ sở để nhà làm luật quy định khung hình phạt tương ứng từng loại tội phạm cụ thể, cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn, đầy đủ những điều luật quy định về từng loại tội phạm trong thực tiễn.
Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa một cách chung nhất về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt hình sự”. Khái niệm về chất ma túy Ma túy, theo gốc Hán - Việt, “ma” có nghĩa là tê liệt hoặc là “làm mê mẩn” hoặc là làm cho tê liệt; “túy” có nghĩa là say sưa [46, tr. “Ma túy” là một danh từ dùng để chỉ chất thuốc có khả năng gây ra hiện tượng thần kinh tê liệt, dùng nhiều sẽ bị nghiện. Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về chất ma túy, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về chất ma túy, như: Theo ý kiến một số chuyên gia thì: “Ma túy là chất tự nhiên hoặc hóa học hợp thành, khi hấp thụ vào con người sẽ gây nguy hại cho con người”.
Ý kiến khác lại cho rằng: “Ma túy là những chất mà dùng nó một thời gian sẽ gây trạng thái nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc” [45, tr. 10 Luan van Ở Việt Nam, cụm từ chất ma túy lần đầu tiên được quy định chính thức tại Điều 203 BLHS năm 1985 với “Tội tổ chức dùng chất ma túy”, sau này được thay bằng Điều 185i của Luật số 57-L/CTN ngày 10/5/1997 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985. Tiếp theo đó là BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định chất ma túy và tội phạm về ma túy. Theo đó, tại các Bộ luật quy định chất ma túy gồm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cô ca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa, lá cây côca; quả thuốc phiện tươi, quả thuốc phiện khô; heroin, coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11, các chất ma túy khác ở thể lỏng, các chất ma túy khác ở thể rắn.
Đồng thời, khái niệm chất ma túy cũng được Luật số 23/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội về Phòng, chống ma túy, Luật số 16/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Điểm 1.1 Khoản 1 Mục I Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 quy định: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Ngoài ra, tại Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy cũng đã quy định cụ thể về chất gây nghiện, chất hướng thần, các loại cây có chứa chất ma túy, khái niệm người nghiện ma túy. Các quy định nêu trên cơ bản đều có định nghĩa giống nhau về chất ma túy, đó là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành, tác hại nghiêm trọng nhất của ma túy là tạo ra sự lệ thuộc cả về tâm lý và thể chất đối với người sử dụng. Như vậy theo nghĩa chung nhất thì: 11 Luan van “Ma túy là một số chất tự nhiên hoặc chất tổng hợp (hóa học) khi đưa vào cơ thể người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng”.
Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Theo đó, ngoài 46 chất thuộc Danh Mục I gồm các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền; 398 chất thuộc Danh Mục II gồm các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; 71 chất thuộc Danh Mục III gồm các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền thì Nghị định còn quy định thêm Danh Mục IV gồm các tiền chất gồm 44 tiền chất được sử dụng vì mục đích quốc phòng, an ninh do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Từ những phân tích trên cho thấy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về định nghĩa ma túy, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng: “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp.
Khi được đưa vào cơ thể con người, nó làm thay đổi trạng thái ý thức của người sử dụng. Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ bị phụ thuộc vào nó, dẫn đến tình trạng nghiện và sẽ gây tổn thương đối với người sử dụng, gia đình và cộng đồng”. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy Hiện nay, tồn tại khá nhiều khái niệm khác nhau về tội phạm ma túy như:“Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma 12 Luan van túy của nhà nước” hoặc “Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy”.