Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 02/09/1990 đã định nghĩa: "Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác"[13].
Các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước này. Ngay sau khi tham gia công ước, Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991 sửa đổi, bổ sung năm 2004 và sau đó được thay thế bằng luật trẻ em năm 2016. Tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [24, Điều 1]. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa thành niên là dưới 18 tuổi, là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm và kỹ năng sống.
Những người dưới 18 tuổi, đặc biệt từ giai đoạn 14 tuổi trở lên có tâm sinh lý chưa ổn định, nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn chế, thậm chí là còn sai lệch, thường có tính cách nông nổi, hiếu thắng, liều lĩnh, khó tự kiềm chế bản thân khi có các yếu tố của ngoại cảnh tác động, dễ dẫn đến manh động và có các hành vi bạo lực để đối phó, chống trả trước tác động của ngoại cảnh. Ở lứa tuổi này, họ thường có những biểu hiện ra bên ngoài bằng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ. Ngoài ra, họ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá cái mới nhưng nếu sự khám phá ấy thiếu sự quan tâm, định hướng của gia đình, nhà trường và xã hội dễ trở thành nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các em. Về nhận thức pháp luật của các em còn nhiều hạn chế.
Một phần không nhỏ những đối tượng 9 luan an này thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến những hậu quả xảy ra là nguy hiểm cho xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể do các em chưa có nhận thức được đúng, sai, phải, trái nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là những thiếu sót, hạn chế trong công tác giáo dục hiểu biết pháp luật của gia đình, nhà trường và xã hội. Như vậy, theo các quy định trên, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi; “người chưa thành niên” là người dưới 18 tuổi. Như vậy, mọi trẻ em đều là người chưa thành niên, người từ 16 đến dưới 18 không phải là trẻ em.
Nguyễn Văn Luật – Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Chính Phủ cho rằng: “Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em, vì vậy nên tuân thủ theo qui định của Công ước về tuổi của trẻ em. Đơn giản vì, nếu điều ước 18 quốc tế mà Việt Nam là thành viên có qui định khác so với pháp luật của nước ta thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó” [13]. Nên việc xem xét vấn đề điều chỉnh độ tuổi của trẻ em lên dưới 18 là một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là để phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em như Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 về xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất nhằm mục đích tăng mức độ bảo vệ trẻ em cho tất cả những người có độ tuổi dưới 18. Độ tuổi pháp lý của trẻ em được coi là vấn đề mang tính khoa học, vừa mang tính xã hội sâu sắc.
Việc Luật trẻ em của Việt Nam xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi chưa tương thích với Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Trước đây, Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã dành hẳn một chương quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Kế thừa, tiếp nối tư tưởng và chính sách hình sự Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 tại chương XI “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”. Như vậy, thuật ngữ người chưa thành niên phạm tội đã được xác định rõ ràng hơn là người dưới 18 tuổi phạm tội.
Tuy nhiên không phải bất cứ người dưới 18 tuổi nào phạm tội thì cũng đều là tội phạm. Bộ luật hình sự quy định tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như căn cứ về mặt tâm sinh lý phát triển của con người, đây là vấn đề quan trọng trong pháp luật hình sự của 10 luan an mỗi quốc gia thể hiện quan điểm của Nhà nước về xử lý tội phạm và bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi trở lên vì người dưới 14 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình,nên chưa có năng lực trách nhiệm hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có sự kế thừa và đồng thời khắc phục những hạn chế của các Bộ luật hình sự trước đây đó là chỉ xem xét trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 [22, Khoản 2, Điều 12]; đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Việc quy định độ tuổi như vậy là phù hợp với pháp luật quốc tế nâng cao hiệu quả giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em được căn cứ dựa trên các tiêu chí về đặc điểm tâm lý, thể chất và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam; dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở nước ta nói riêng; căn cứ vào việc tham khảo các quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các nước trên thế giới. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện Theo triết học Mác – Lênin mối quan hệ nhân quả là mối liên hệ được lặp đi lặp lại nhiều nhất, phổ biến nhất. Do đó, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của con người. Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra những biến đổi nhất định nào đó.
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật. [3] Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện 11 luan an được lý giải trên cơ sở tiếp cận phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả của cặp phạm trù này. Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực ở trong mối liên hệ tương tác hai mức độ sinh ra và tái sản xuất ra tình hình tội phạm như là hậu quả tất yếu của mình. Điều kiện của tình hình tội phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực, tự mình không sinh ra tình hình tội phạm, mà là hỗ trợ, làm dễ dàng và tăng cường cho sự hình thành và hoạt động của các nguyên nhân” [56,tr.
Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được coi là đối tượng nghiên cứu cơ bản của tội phạm học, vì chỉ có làm sáng tỏ được lý do vì đâu mà tội phạm phát sinh, tồn tại, vận động trong đời sống xã hội thì mới phòng ngừa, ngăn chặn, loại trừ được tội phạm xảy ra. Việc xác định nguyên nhân và điều kiện chỉ mang tính chất tương đối vì có những trường hợp yếu tố đó là nguyên nhân nhưng trường hợp khác nó là điều kiện hoặc ngược lại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện đóng vai trò quan trọng cho việc chứng minh các sự kiện, hiện tượng các yếu tố tham gia vào sự tác động qua lại làm phát sinh tội phạm. Tóm lại, chúng ta đưa ra khái niệm như sau: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh là sự tác động qua lại của các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm sinh lý tiêu cực thuộc cá nhân, bản thân người dưới 18 tuổi thực hiện phạm tội trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định đó là tội phạm”.
Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện Theo GS. TS Võ Khánh Vinh: “Trong tội phạm học tùy thuộc vào nhiệm vụ của việc nghiên cứu thì người ta sử dụng việc phân chia các nguyên nhân và điều 12 luan an kiện của tình hình tội phạm theo các cách khác nhau” [56,tr. Việc phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện tại địa bàn Quận 7 có vai trò rất quan trọng trong tìm ra các yếu tố phát sinh tình hình tội phạm.