Tổng quan nghiên cứu
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là một trong những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước theo tinh thần Điều 33 và Điều 51 Hiến pháp năm 2013. Tại các địa bàn giáp ranh biên giới Tây Nam, đặc biệt là huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Long An, tình hình vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu diễn ra rất phức tạp với hàng ngàn bao thuốc lá ngoại được vận chuyển mỗi ngày. Việc Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã tạo bước ngoặt lớn khi tách Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành 02 tội danh độc lập: Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm tại Điều 190 và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại Điều 191.
Công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Lan Phương năm 2019 tập trung giải quyết vấn đề nhận thức lý luận và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Điều 191 Bộ luật Hình sự. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích toàn diện 04 yếu tố cấu thành tội phạm, đánh giá thực trạng hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn huyện Đức Hòa trong giai đoạn 05 năm từ năm 2014 đến năm 2018, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần giảm thiểu 100% nguy cơ nhầm lẫn giữa các tội danh kinh tế và tăng tỷ lệ giải quyết án đúng quy định pháp luật hình sự lên mức tối đa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam kết hợp với lý thuyết quản lý kinh tế nhà nước để tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Cấu thành tội phạm của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được xây dựng dựa trên 04 yếu tố pháp lý thống nhất: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể trực tiếp của tội phạm là trật tự quản lý kinh tế và chế độ độc quyền của Nhà nước đối với các mặt hàng cấm kinh doanh, cấm lưu hành theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP và Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-BCT năm 2014 quy định chi tiết Luật Thương mại với danh mục 19 loại hàng hóa cấm.
Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: hàng cấm, hành vi tàng trữ bất hợp pháp, hành vi dịch chuyển hàng cấm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự. Cơ sở lý thuyết của luận văn phân tích rõ sự chuyển dịch lập pháp từ Điều 166 Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cấu thành tội phạm hình thức tại Điều 191 đã định lượng hóa cụ thể mức khởi điểm truy cứu trách nhiệm hình sự, tiêu biểu như thuốc bảo vệ thực vật cấm từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam, thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao, hoặc pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam. Mức phạt tiền khởi điểm cho cá nhân phạm tội cũng được ấn định từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp là toàn bộ 48 hồ sơ vụ án hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được thụ lý điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm tại các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đức Hòa, tỉnh Long An trong mốc thời gian nghiên cứu 05 năm từ năm 2014 đến năm 2018. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 48 vụ án với 56 bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ có chủ đích nhằm thu thập trọn vẹn các bản án sơ thẩm, quyết định xử phạt vi phạm hành chính và báo cáo tổng kết công tác phòng chống buôn lậu của địa phương.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp luật học so sánh là nhằm đối chiếu sự khác biệt giữa các văn bản pháp luật qua từng thời kỳ, làm rõ những khoảng trống pháp lý giữa Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 với Bộ luật Hình sự. Việc kết hợp phân tích định tính về mặt cấu thành tội phạm và định lượng qua 48 vụ án thực tế giúp đảm bảo tính khách quan, khoa học và phản ánh trung thực thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn trọng điểm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu từ thực tiễn huyện Đức Hòa giai đoạn 2014-2018 đã chỉ ra 04 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, thuốc lá điếu nhập lậu là mặt hàng chiếm tỷ trọng áp đảo, xuất hiện trong hơn 91,6% tổng số vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bị xử lý tại huyện Đức Hòa, tập trung vào các nhãn hiệu như Jet, Hero và 555. Các mặt hàng khác như pháo nổ và thuốc bảo vệ thực vật chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 8,4%.
Thứ hai, số lượng vụ án hình sự được thụ lý điều tra có xu hướng gia tăng rõ rệt, tăng khoảng 25,5% sau khi các cơ quan tố tụng áp dụng các văn bản hướng dẫn định lượng cụ thể. Nhiều vụ án thu giữ số lượng tang vật đặc biệt lớn từ 4.500 bao thuốc lá lậu trở lên, thỏa mãn khung hình phạt tại khoản 3 Điều 191 với mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Thứ ba, về quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, hình phạt tù có thời hạn chiếm khoảng 66,7% tổng số bị cáo bị kết án, trong khi tỷ lệ áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo chiếm khoảng 33,3%. Điển hình như bản án số 52/2018/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2018 đã xử phạt 06 tháng tù giam đối với hành vi tàng trữ 610 bao thuốc lá do bị cáo đã có 01 tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính 15.000.000 đồng.
Thứ tư, phương thức thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi khi các đối tượng triệt để lợi dụng kẽ hở pháp lý, thuê mướn các đối tượng dưới 16 tuổi vận chuyển hoặc xé lẻ hàng hóa dưới mức 1.500 bao thuốc lá nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình hình phạm tội diễn biến phức tạp tại Đức Hòa xuất phát từ vị trí địa lý giáp ranh các cửa khẩu biên giới Campuchia như cửa khẩu Tho Mo, đồng thời là cửa ngõ giao thương đường bộ huyết mạch dẫn về Thành phố Hồ Chí Minh. Lợi nhuận siêu ngạch từ buôn lậu thuốc lá ngoại có thể chênh lệch từ 150% đến 200% so với giá gốc, thúc đẩy các đối tượng hình thành các đường dây vận chuyển khép kín. Kết quả nghiên cứu này có sự tương đồng sâu sắc với luận án của tác giả Lê Trung Kiên năm 2015 về phòng ngừa tội phạm kinh tế miền Đông Nam Bộ và luận văn của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang năm 2016 tại Quảng Ninh.
Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu trong luận văn có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột thể hiện biến thiên số vụ án thụ lý qua 05 năm từ 2014 đến 2018, kết hợp bảng cơ cấu các loại hàng cấm bị thu giữ và biểu đồ tròn phân bổ tỷ lệ các loại hình phạt được Tòa án áp dụng. Việc mô tả này phản ánh rõ ràng sự tác động của chính sách hình sự mới đối với tỷ lệ xử lý tội phạm trên thực tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra 04 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết việc xác định trị giá hàng phạm pháp và khoản thu lợi bất chính trong quý IV năm 2020, nhằm giải quyết triệt để 100% vướng mắc trong việc định tội danh.
Thứ hai, tăng cường hiệu quả phối hợp tuần tra, kiểm soát liên ngành trên địa bàn huyện Đức Hòa. Công an huyện Đức Hòa, Đội Quản lý thị trường và lực lượng Biên phòng cần thiết lập các chốt kiểm soát cơ động 24/7 trên các tuyến tỉnh lộ huyết mạch từ năm 2020, phấn đấu mục tiêu kiềm chế và giảm ít nhất 30% số vụ vận chuyển hàng cấm qua địa bàn trong giai đoạn 2020-2023.
Thứ ba, nâng cao năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán. Các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Long An tổ chức định kỳ 02 lớp tập huấn chuyên sâu hàng năm về kỹ năng thu thập chứng cứ và định tội danh kinh tế, bảo đảm 100% các vụ án được xét xử đúng người, đúng tội, không phát sinh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Thứ tư, triển khai các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho cư dân vùng giáp ranh. Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa phối hợp cùng các tổ chức tín dụng chính sách tạo điều kiện cho vay vốn chuyển đổi nghề nghiệp, đặt mục tiêu giảm 50% tỷ lệ người dân tham gia vận chuyển thuê hàng lậu trong vòng 03 năm tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị cao cho 04 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, cán bộ tiến hành tố tụng bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán. Luận văn cung cấp cẩm nang chi tiết giúp phân biệt chính xác giữa Điều 190 và Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử lý đúng đắn các trường hợp phạm tội có yếu tố tiền sự hoặc định lượng từ 1.500 bao thuốc lá ngoại trở lên.
Thứ hai, luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý. Nghiên cứu giúp các luật sư xây dựng luận cứ bào chữa sắc bén dựa trên 04 yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong hơn 19 danh mục hàng cấm theo quy định hiện hành.
Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Đây là nguồn dữ liệu thực nghiệm tiêu biểu với 48 hồ sơ vụ án thực tế, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm kinh tế.
Thứ tư, lực lượng Quản lý thị trường, Hải quan và cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt thủ đoạn buôn lậu và hoàn thiện khung pháp lý về quản lý thị trường hàng hóa nội địa.
Câu hỏi thường gặp
Hành vi tàng trữ và vận chuyển hàng cấm theo Bộ luật Hình sự năm 2015 có điểm gì mới so với quy định trước đây?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tách Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành Điều 190 và Điều 191 độc lập, đồng thời cụ thể hóa các tiêu chí định lượng như thuốc lá lậu từ 1.500 bao hoặc pháo nổ từ 06 kilôgam, khắc phục sự tùy nghi khi áp dụng thuật ngữ số lượng lớn trước đây.
Người vận chuyển bao nhiêu bao thuốc lá điếu nhập lậu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, cá nhân vận chuyển trái phép từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vận chuyển hàng cấm số lượng lớn có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Theo quy định tại Điều 12 và Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, ngay cả khi số lượng tang vật thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng trên 4.500 bao thuốc lá.
Người đã có tiền sự về hành vi tàng trữ hàng cấm khi tái phạm dưới mức định lượng có bị khởi tố hình sự không?
Có. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, cá nhân đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất kể số lượng hàng cấm, ví dụ thực tế tại bản án số 52/2018/HSST huyện Đức Hòa xử phạt bị cáo 06 tháng tù khi tàng trữ 610 bao thuốc lá.
Pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển hàng cấm không?
Có. Khoản 5 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 lần đầu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại với các chế tài nghiêm khắc như phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.
Kết luận
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Phương đã đóng góp quan trọng vào khoa học pháp lý hình sự và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế thông qua 05 kết luận then chốt:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và 04 yếu tố cấu thành tội phạm của Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn qua 48 vụ án hình sự tại địa bàn trọng điểm huyện Đức Hòa giai đoạn 2014-2018.
- Phân tích ranh giới pháp lý phân biệt hành vi tàng trữ, vận chuyển với hành vi buôn bán hàng cấm và hành vi vi phạm hành chính.
- Đề xuất hệ thống 04 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường năng lực thực thi của các cơ quan tố tụng.
- Thiết lập lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2020-2023 nhằm giảm thiểu tối đa tình trạng buôn lậu và vận chuyển hàng cấm tại khu vực biên giới.
Để nghiên cứu chi tiết và tiếp cận toàn văn công trình khoa học cùng hệ thống dữ liệu thực nghiệm phong phú, bạn đọc hãy tham khảo trực tiếp luận văn thạc sĩ luật học tại thư viện Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam.