CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài. Khái niệm phạm pháp và tội phạm. Phạm pháp (hay còn gọi là vi phạm pháp luật), đó là những hành động của con người bị pháp luật cấm hoặc những hành vi gây ra sự thiệt hại nào đó cho xã hội.
Còn tội phạm, đó là dạng vi phạm pháp luật nguy hiểm: giết người, trộm cắp, hiếp dâm, xâm hại tài sản xã hội chủ nghĩa - đó là một vài loại tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự.21] Danh từ “tội phạm” được định nghĩa một cách khác nhau tùy theo lĩnh vực chuyên môn của người nghiên cứu vấn đề. Tuy nhiên hầu hết các định nghĩa đều trong phạm vi các khái niệm sau: + Hành vi “tội phạm” là hành vi sai phạm có thể trừng phạt bằng pháp luật, đặc biệt là luật hình sự. + Tội phạm - đó là hành vi của con người có nhận thức. Người gây ra chúng phải đạt đến một độ tuổi nhất định (thường là 16, nhưng trong một số trường hợp là 14 tuổi).
Tội phạm gây ra những thiệt hại cho quyền lợi của cá nhân và xã hội. Sự thiệt hại này có thể là sự thiệt hại về vật chất (ví dụ trong trường hợp trộm cắp) hoặc tinh thần (trong trường hợp vu khống). Hậu quả của pháp luật là hình phạt, được xác định rõ với từng loại tội phạm trong bộ luât hình sự.21] + Điều 8 (chương 3 khái niệm tội phạm) Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 21-12-1999 đã quy định: 1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, 20 xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm các lãnh vực khác của trật tự, pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặt biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là mười lăm năm tù; tội đặt biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặt biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.19-20] Theo các nhà xã hội học, tội phạm là một bộ phận của lớp người có hành vi lệch chiều trong xã hội, nghĩa là những khuôn mẫu tác phong của họ không hòa nhập vào các cơ cấu, các thể chế xã hội, do đó không được xã hội thừa nhận. Sự chuyển biến của tội phạm có gắn chặt với các yếu tố như sau: + Quy tắc xã hội : Khi xã hội xáo trộn thì các quy tắc không được tôn trọng, hành vi thường lệch lạc.
Những thay đổi quá nhanh chóng có thể gây ra nhiều xáo trộn tâm lý phức tạp. + Sự kiểm soát xã hội: áp lực phải mạnh để cá nhân hành động theo những quy tắc chung của tập thể. 21 + Mối tương quan xã hội tạo sự an toàn tâm lý, tiền đề cho sự phát triển bình thường và lành mạnh. Các giải thích về các nguyên nhân của tội phạm, nói chung đều tập chung vào các yếu tố vừa nêu.
Khái niệm người chưa thành niên theo pháp luật. Theo điều 1 Công ước của Liên hiệp Quốc về quyền trẻ em thì: “Trẻ em là người dưới mười tám tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn.13] Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, độ tuổi tối đa của người được coi là “trẻ em” có thể khác nhau, nhưng nhìn chung đều không quá 18 tuổi. Khi Công ước vừa mới ra đời năm 1989 Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và đồng thời là quốc gia đầu tiên ở Châu Á đã tham gia ký kết Công ước này vào năm 1990. Đến năm 1991 nhà nước ta đã kịp thời ban hành luật Bảo vệ Chăm sóc Giáo dục Trẻ em.
Tại điều 1 luật này qui định: “Trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.” [53] Như vậy, khái niệm trẻ em trong luật Bảo vệ Chăm sóc Giáo dục trẻ em đã thu hẹp độ tuổi là 16. Trong khi đó, khái niệm “người chưa thành niên” lại không được quy định rõ ràng mà chỉ cho ta một cách hiểu suy luận từ khái niệm “người thành niên”, theo Từ điển tiếng Việt thì: “Người thành niên là người đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ”. Từ điển không lấy độ tuổi phân định giữa người thành niên và người chưa thành niên mà nó phân định dựa trên các quyền lợi và nghĩa vụ mà pháp luật công nhận. Và điều 119 Bộ luật Lao động của ta cũng qui định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi.48] Như vậy, thông qua các văn bản có giá trị pháp lý nêu trên cho phép ta khẳng định: người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Còn trẻ em là người dưới 16 tuổi. Khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” theo Bộ luật Hình sự Việt Nam. Theo điều 12 (chương 3 khái niệm Tội phạm) Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 21-12-1999: Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.” Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này.52] Từ quy định trên cũng như do nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và tâm sinh lý con người.
Bộ luật Hình sự đã thừa nhận: “Người chưa thành niên phạm tội là người trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi mà Luật Hình sự coi là tội phạm.” Nếu xét từ góc độ tuổi thì khái niệm “trẻ em phạm tội” và “người chưa thành niên phạm tội” là hai khái niệm khác nhau. Trẻ em phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm một trong những tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Còn người chưa thành niên phạm tội là những người trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm một trong những tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Do đó khái niệm người chưa thành niên phạm tội đã bao hàm trong nó khái niệm trẻ em phạm tội.
Khái niệm về thanh thiếu niên và người chưa thành niên phạm pháp. Thanh thiếu niên phạm pháp. Khái niệm thanh thiếu niên là khái niệm chỉ một nhóm nhân khẩu xã hội từ 10 đến khoảng 28 tuổi. Khái niệm này bao hàm cả khái niệm trẻ em và người chưa thành niên.
23 Chữ delinquency (phạm pháp) bắt nguồn từ tiếng La tinh deliquence có nghĩa là “sao lãng” và có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự cẩu thả của thanh thiếu niên không tuân theo đúng chuẩn mực được chấp thuận trong một xã hội. Hành động của một thanh thiếu niên chống lại xã hội được coi như sự phạm pháp. “Sự phạm pháp của thanh thiếu niên là toàn bộ những vi phạm của những thanh thiếu niên chưa bị trách nhiệm hình sự về những hành vi bị pháp luật và những qui định cấm đoán. Hay “sự phạm pháp của thanh thiếu niên là những hành vi tội phạm được thực hiện bởi thanh thiếu niên.
Khái niệm người chưa thành niên phạm pháp. Qua tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và trên cơ sở những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề người chưa thành niên, trong đề tài này quan niệm của tác giả về người chưa thành niên phạm pháp như sau: “Người chưa thành niên phạm pháp là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi đã thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý những hành vi vi phạm pháp luật hiện hành” Như vậy, người chưa thành niên phạm pháp bao gồm cả những hành vi vi phạm ít nghiêm trọng như: trộm cắp, gây rối trật tự, vi phạm luật lệ giao thông … và những tội phạm nghiêm trọng như: cướp của, giết người, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em …. Do đó, người chưa thành niên phạm tội là người chưa thành niên phạm pháp, nhưng ngược lại không phải tất cả người chưa thành niên phạm pháp đều là người chưa thành niên phạm tội. Khái niệm phạm pháp bao hàm khái niệm phạm tội (chỉ được xem là tội phạm khi phạm một trong những tội được quy định trong Bộ luật Hình sự).
Khái niệm về tình hình tội phạm. Không thể đề ra các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả khi không nắm được tình hình, diễn biến, cơ cấu của tình hình tội phạm.