CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẮT, TẠM GIỮ, TẠM GIAM ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam - Khái niệm biện pháp ngăn chặn Bộ luật tố tụng hình sự quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố tụng nhất định. Trong đó, biện pháp ngăn chặn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến thân thể, quyền con người, hạn chế quyền và tự do cá nhân được Hiến pháp ghi nhận.
Chính vì vậy mà Bộ luật Tố tụng hình sự đã dành một chương riêng để quy định về các biện pháp ngăn chặn. Để việc hiểu và thực hiện tốt các quy định về biện pháp ngăn chặn, nhiều tài liệu, sách báo đã đưa ra những khái niệm khác nhau về các biện pháp ngăn chặn. Vậy các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự được hiểu như thế nào? Theo từ điển phổ thông của ngành công an thì: “Các biện pháp ngăn chặn trong phòng chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác thực hiện âm mưu phạm tội của chúng”. Nội dung khái niệm này cho thấy, biện pháp ngăn chặn chủ yếu là tính chủ động tấn công phòng ngừa tội phạm mà chưa nêu ra được các chủ thể một cách rõ ràng, chưa nêu ra được những đối tượng bị áp dụng và những căn cứ nào dùng để giải quyết vụ án hình sự.
Theo tác giả Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên thì: Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết trong tố tụng hình sự do các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả những người chưa bị khởi tố (người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ 7 tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Về nội dung, khái niệm cơ bản đầy đủ nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh vì khi bắt người phạm tội quả tang thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt khi trông thấy chứ không chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Hay lực lượng quản lý giáo dục, cải tạo phạm nhân tiến hành công tác thi hành án phạt tù những cơ quan này có phải là cơ quan tiến hành tố tụng không? Ngoài ra, còn một số khái niệm khác nữa về biện pháp ngăn chặn của các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm được công bố trong các giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học. Các khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại Điều 61 BLTTHS năm 1988, Điều 79 BLTTHS năm 2003 và Điều 109 BLTTHS năm 2015, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Những khái niệm trên đã nêu lên được khía cạnh này hay khía cạnh khác về biện pháp ngăn chặn và tương đối thống nhất khi đề cập đến bản chất pháp lý của chúng là sự cưỡng chế nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa đưa ra được một khái niệm đầy đủ, khoa học chứa đựng tất cả các yếu tố cấu thành nên biện pháp ngăn chặn thể hiện ở các dấu hiệu đặc trưng như căn cứ, mục đích, thẩm quyền và đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Vì vậy, cá nhân tôi cho rằng, một khái niệm hoàn chỉnh, chính xác về các biện pháp ngăn chặn thì trong khái niệm đó phải hàm chứa tất cả các dấu hiệu đặc trưng nói trên. Tại điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tiếp tục kế thừa nội dung của Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đồng thời bỏ đi các căn cứ áp chung, mở rộng hơn phạm vi đối tượng bị áp dụng và thẩm quyền áp biện pháp ngăn chặn: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn 8 cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”.
Tổng hợp từ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và một số khái niệm trên, qua phân tích có thể rút ra khái niệm như sau: “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thế áp dụng đối với người bị buộc tội (người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo) khi có căn cứ do Bộ luật này quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015, các biện pháp ngăn chặn gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. - Khái niệm biện pháp bắt người: Bắt người là một trong những hình thức thể hiện của BPNC. Bắt có tính chất khởi đầu cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tiếp theo.
Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắc vì vậy việc bắt nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục theo pháp luật quy định. Dựa vào quy định trong tố tụng hình sự ta có khái niệm: Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng áp dụng đối với người bị buộc tội khi có căn cứ do Bộ luật này quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. - Khái niệm biện pháp tạm giữ, hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về biện pháp tạm giữ nhưng căn cứ vào quy định của pháp luật Tố tụng hình sự qua các thời kỳ, ta có khái niệm tổng quát sau: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do cơ quan và người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết 9 định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc xử lý tội phạm được chính xác và kịp thời. - Khái niệm niện pháp tạm giam, theo Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định cụ thể nào về khái niệm đối với biện pháp này.
Tuy nhiên, căn cứ vào lý luận pháp lý và nội dung tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng như Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có thể đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giam như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”. Qua khái niệm tạm giam cho thấy, đây là biện pháp có tính chất lựa chọn “Có thể áp dụng” tức là không phải bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ căn cứ mà những căn cứ mà chỉ là điều kiện đủ để áp dụng tạm giam. Các quy định về biện pháp tạm giam là cơ sở pháp lý cần thiết, quan trọng cho các Cơ quan tiến hành tố tụng và công dân trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Muốn áp dụng đúng đắn các quy định trước hết các quy định này phải chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất.
Trên đây là những khái niệm cơ bản vể các biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam. Đối với mỗi biện pháp Luật tố tụng hình sự đều quy định những nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, đối tượng áp dụng cụ thể. Trong thực tiễn áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên những quy định này để áp dụng sao cho có căn cứ, đúng pháp luật đồng thời phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo, có như vậy mới đạt được mục đích trong quá trình áp dụng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với người bị buộc tội. Khái niệm áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi - Khái niệm người dưới 18 tuổi 10 Đối với người dưới 18 tuổi, hiện nay có khá nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau.
Ở Việt Nam, thuật ngữ người “chưa thành niên” được quy định nhiều trong các văn bản pháp luật khác nhau. Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội nêu rõ “người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.