Chương 1. Nhận thức chung về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Tình hình áp dụng Luật hình sự đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và những giải pháp, kiến nghị. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước Theo nguyên nghĩa, hóa đơn là “giấy người bán đưa cho người mua hàng để là bằng chứng đã trả tiền” [44, tr.472] mà cụ thể hơn đó là “giấy ghi các chỉ số như: tên người mua hàng, loại hàng bán ra, giá tiền để làm chứng từ” [1, tr. Với cách hiểu này, hóa đơn luôn tồn tại dưới hình thức giấy và là phương tiện ghi nhận quan hệ mua bán hàng hóa giữa người bán hàng và người mua hàng trong hoạt động kinh tế nói riêng, trong giao lưu dân sự nói chung. Cũng theo cách hiểu này thì hóa đơn chỉ được sử dụng hạn hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, chứ chưa khẳng định vai trò trong các hoạt động cung ứng dịch vụ.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự phát triển của xã hội, thuật ngữ hóa đơn ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong các hoạt động mua bán hàng hóa, hóa đơn đóng vai trò là “bằng chứng” cho hành vi mua bán các loại hàng hóa nhất định cũng như giá trị thành tiền của từng loại hàng hóa đó. Nội hàm và ngoại diên của khái niệm hóa đơn được khai thác sâu hơn, vai trò của hóa đơn ngày càng được khẳng định, được mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ và được ghi nhận chính thức trong các văn bản pháp lý chuyên ngành, hình thức của hóa đơn cũng có sự thay đổi, các loại hóa đơn cũng đa dạng hơn, theo đó: Hóa đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua, bán, trao đổi quyền 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ [9, Điều 3, Khoản 1]. Tuy nhiên, định nghĩa này về hóa đơn đã có sự thay đổi theo hướng phản ánh đúng hơn bản chất của hóa đơn trong nền kinh tế thị trường. Theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (Nghị định số 51/2010/NĐ-CP) và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 51/2010/NĐ- CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ (Nghị định số 04/2015/NĐ-CP) và Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP (Thông tư số 39/2014/TT- BTC) thì hóa đơn được hiểu “là chứng từ do người bán lập ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật”.
Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ra đời được đánh giá là có nhiều điểm kế thừa và thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 11 năm 2002 quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn (Nghị định số 89/2002/NĐ-CP) nhằm tạo cơ chế linh hoạt hơn nữa cho các chủ thể trong quá trình sử dụng, quản lý hóa đơn, chứng từ. Các thông tin hàng hóa, dịch vụ ở đây có thể hiểu chính là khối lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua bán trao đổi. Đồng thời, hóa đơn cũng phải đảm bảo xác nhận các thông tin về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ (các quy định tại Điều 3 Khoản 1 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP không trái với quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP). Về các loại hóa đơn, Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Điều 3 Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định bao gồm: - Hóa đơn giá trị gia tăng là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động: Bán 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa; Hoạt động vận tải quốc tế; Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu; Xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài.
- Hóa đơn bán hàng dùng cho các: Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”. - Hóa đơn khác gồm: tem; vé; thẻ; phiếu thu tiền bảo hiểm …; Phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan. Đồng thời xác định ba hình thức hóa đơn bao gồm: Hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử và hóa đơn đặt in. Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành; Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, hộ, cá nhân.
So với Nghị định số 89/2002/NĐ-CP thì các loại và hình thức hóa đơn đã có nhiều điểm khác biệt trong Nghị định số 51/2010/NĐ-CP. Theo đó, nghị định mới đã bổ sung thêm loại hóa đơn xuất khẩu vào diện điều chỉnh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “nhằm hạn chế thủ tục hành chính khi phải lập hóa đơn giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu” [36, tr. Đồng thời quy định hình thức hóa đơn tự in và hóa đơn điện tử “để các doanh nghiệp có thể áp dụng công nghệ thông tin trong việc tạo, lập, quản lý và lưu trữ hóa đơn với chi phí thấp” [36, tr. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì hóa đơn luôn là chứng từ chứa đựng những thông tin về hàng hóa, dịch vụ, về các bên chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Các quy định trên cũng được áp dụng với chứng từ ở những khía cạnh nhất định trong một số trường hợp cụ thể bởi vì giữa hóa đơn và chứng từ không có sự khác biệt về vai trò và ý nghĩa, nhưng sự khác biệt nhất định về phạm vi nội hàm khái niệm giữa chúng là nội dung cần được làm rõ bởi hóa đơn là chứng từ nhưng chứng từ không có nghĩa là hóa đơn trong mọi trường hợp. Ở góc độ lý luận, khái niệm chứng từ được đưa ra bởi nhiều nguồn tài liệu khác nhau: Theo tiếng La tinh chứng từ là “Documentum” có nghĩa là bằng cớ, chứng minh [19]. Theo từ điển Tiếng Việt, Chứng từ là “giấy tờ làm bằng chứng thu chi, xuất nhập” [1, tr. Một số tài liệu khác cho rằng “bất cứ bằng chứng tài liệu hỗ trợ cho các mục ghi trong sổ sách kế toán, thiết lập chính xác số học của giao dịch cũng có thể được gọi là chứng từ” [5].
Như vậy, thuật ngữ chứng từ cũng được nhấn mạnh với vai trò chứng minh cho hoạt động có liên quan (chủ yếu trong hoạt động kinh tế) mà với vai trò là “bằng chứng”, chứng từ luôn chứa đựng những thông tin nhất định về một vấn đề hay một hoạt động cụ thể trong thực tiễn đúng nghĩa với vai trò chứng minh của nó. Mặc dù cũng có hình thức “giấy”, nhưng khái niệm chứng từ trên phản ánh ý nghĩa của chứng từ nhiều hơn là giấy mang thông tin như hóa đơn (theo nguyên nghĩa). Đây là các khái niệm chung, khái quát về chứng từ phần nào thể hiện bản chất cũng như ý nghĩa của chứng từ trong hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, với cách hiểu khái quát đó, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những khía cạnh quan trọng có liên quan đến hóa đơn, chứng từ không được hé mở, không được tiếp cận và khai thác, từ đó khó có thể hình dung ra những vấn đề nóng, nổi cộm hiện nay trong các lĩnh vực có sử dụng hóa đơn chứng từ mà trước tiên là lĩnh vực kinh tế.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm chứng từ được đề cập trong các tài liệu và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành thuộc một số lĩnh vực có liên quan. Theo Từ điển Luật học do Viện khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp phát hành năm 2006 thì: “Chứng từ là tài liệu phản ánh sự kiện kinh tế được lập theo hình thức và thủ tục Luật định, dùng làm căn cứ để ghi vào sổ sách kế toán và là tài liệu thông tin ban đầu của quản lý” [6, tr. Theo một số tài liệu nghiên cứu khác thì chứng từ bao gồm nhiều loại trong đó có cả chứng từ có giá có thể chuyển nhượng được và được gọi là giấy tờ có giá được sử dụng trong giao lưu dân sự (như hóa đơn vận chuyển đường biển. Trong lĩnh vực thương mại điện tử thì chứng từ còn là “hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng”.