phần mở đầu, phần kết luận, danh mục công trình của tác giả và tài liệu tham khảo, Luận án gồm 3 chương: Chương 7. Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam và tình hình tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005. Nguyên nhân của tội phạm giết người và tình hình dấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005. Dựbáo tình hình tội phạm giết người và các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Chương | TOL GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SU VIỆT NAM VÀ TINH HÌNH TOI PHAM GIẾT NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI DOAN 1996 - 2005 1.
TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Hành vi giết người, từ đông, tây, kim, cổ, đều bị coi là hành vi đã man, tàn ác vì nó xâm phạm dén quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quí nhất của con người - quyền được sống. Nếu quyền này bị xâm phạm thì tất cả các quyền khác cũng không thể tồn tại và không thể được thực hiện trên thực tế. Chính vì lí do đó mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kì và mọi chế độ. Ở Việt Nam, để bảo vệ quyền sống của con người, pháp luật hình sự về tội giết người đã được hình thành sớm nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam và cũng chính từ mục dích này mà pháp luật về tội giết người cũng như nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội giết người luôn được quan tâm hàng đầu.
Nghiên cứu qui định về tội giết người trong pháp luật hình sự từ ngày thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay sẽ góp phần làm sáng to những nhận định trên. Tội giết người theo qui định của pháp luật hình sự từ ngày thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực 1. Tội giết người theo qui định của pháp luật hình sự từ ngày thành lập Nhà nuoc Việt Nam dân chủ công hòa đến trưóc ngày thống nhát đất nước (1975) Năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Để kịp thời bảo vệ các quan hệ xã hội mới, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có: Sac lệnh số 27/SL ngày 28-02-1946 trừng trị các tội bat cóc, tống tiền và ám sát; Sac lệnh số 151/SL ngày 12-4-1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật; Thông tư số 442/TTg ngày 19-01-1955 tổng kết án lệ về một số tội phạm thông thường.
Nghiên cứu các văn bản trên, chúng tôi thấy, không có văn bản nào qui định riêng về tội giết người mà tội giết người chỉ được điểm đến trong các văn bản qui dịnh về một nhóm lội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công sản và một số đối tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế, phản phong. Ví dụ: Điều 6 Sac lệnh số 151/SL ngày 12-4-1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật qui định: "Dia chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1) Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền. giết nông dân, cán bộ và nhân viên. thì sẽ bị phạt tà từ mười năm dén chung thân hoặc xử tử hình".
Trong giai đoạn này, hành vi phạm tội giết người được qui định dưới nhiều hình thức khác nhau như ám sát, giết, cố ý giết người. Ví dụ: Điều | Sac lệnh số 27/SL ngày 28-02-1946 trừng trị các tội bat cóc, tong tiền và ám sát qui định: ". Vhững người phạm tội. ám sát sẽ bị phạt từ hai năm đến mười năm tù và có thể bị xử tử"; điểm 3 của Thông tư số 442/TTg ngày 19-01-1955 qui định: ".
Cố y giết người: phạt tà từ năm năm đến hai mươi nam." Qui định về đường lối xử lí đối với người phạm tội giết người thé hiện rõ nguyên tac: nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, người hoạt động đắc lực, gây hậu quả nghiêm trọng; khoan hồng đối với những người bị cưỡng bức, lừa gạt. Vi du: Điều 4 Mục 2 Sác lệnh số 133/SL ngày 20-01-1953 trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước qui định: "Kể nào. cán bộ và nhân dân., sẽ tuy tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ num, tổ chức, cht huy sẽ bị xứ tử hình.; c) Những kể phạm các tội trên mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ muoi năm trở xuống". Đường lối xử lí người phạm tội cũng có một số điểm mới khác đáng chú ý: /) Khung hình phạt của tội giết người đã được mở rộng hơn với nhiều loại và mức hình phạt có tính chất nghiêm khắc khác nhau.
Ví dụ: tại Điểm 3 của Thông tư số 442/TT ngày 19-01-1955 qui định: "Cố ý giết người: phạt tà từ năm năm đến hai mươi năm, nếu có trường hop nhẹ thì có thể hạ xuống đến một năm, giết người có du mu có thể phạt đến tử hình"; 2) Lần đầu tiên hình phạt bổ sung được qui định và áp dụng đối với người phạm tội giết người nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính và mở thêm khả năng pháp lí cho Tòa án có thể lựa chọn hình phạt phù hợp với tinh 9 chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ví dụ: Điều 6 Sac lệnh số ISI/SL ngày 12-4-1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật qui định: "Dia chứ nào. giết nông dân, cán bộ và nhân viên. thì sẽ bị phạt tà từ mười năm đến chung thân hoặc xu tit hình., bị tịch thu một phần hay tất cả tài sẵn".
Sau tháng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để thực hiện đường lối của Dang trong giai doan cách mạng mới, từ năm 1955 đến năm 1976, Chính phủ và TANDTC đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn đường lối xử lí tội giết người như: Chỉ thị số 1025/TATC ngày 15-6-1960 của TANDTC về đường lối xử lí tội giết người vì mê tín; Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452/HS2 ngày 10-8-1970 của TANDTC về thực tiến xét xử tội phạm giết người; Sac luật số 03/SL ngày 15-3-1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời và Thông tư số 03/SL-BTP-TT ngày 15-4- 1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sac luật số 03 nói trên qui định các tội phạm và hình phạt trong đó có tội giết người với nội dung: "Pham tội cố ý giết người thì bị phạt tà từ mười lam năm đến tà chung thân hoặc bị xử tử hình. Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể thấp hơn". Nghiên cứu qui định về tội giết người trong các văn bản nói trên [49] [50] chúng tôi thấy, trong giai đoạn này Luật hình sự đã bổ sung vào tội giết người nhiều tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như: giết người vì động cơ đê hèn hoặc có tính chất côn đồ; giê' phụ nữ mà biết là có mang; giết người trong tình trạng bị nạn nhân ngược đãi hoặc áp bức tan tỆ. Lần đầu tiên đường lối xử lí người phạm tội giết người được qui định một cách rõ ràng như: khi nào thì có thể và nên áp dụng hình phạt tử hình; khi nào thì có thể áp dụng án treo; cần xét xử như thế nào khi vừa có tình tiết tăng nặng lại vừa có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt.
Cụ thể là: 7) Áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội giết người trong trường hợp tập trung nhiều tình tiết tăng nặng đặc biệt hoặc chỉ một tình tiết tăng nặng đặc biệt, nhưng rất nghiêm trọng, nhân thân can phạm xấu, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đáng kể. 2) Ap dụng an treo trong trường hợp cộng phạm nhẹ hoặc nạn nhân là người hủi, người điên, người tần tật với động cơ chủ yếu là muốn tránh khổ sở cho nạn J0 nhân. 3) Khi vừa có tình tiết tăng nang, vừa có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt cần đánh giá đúng dan tính chất và mức độ nguy hiểm của mỗi tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ; so sánh, đối chiếu để thấy được ảnh hưởng qua lại giữa các tình tiết đó với nhau; trên cơ sở đó mà ấn định mức án cho thích hợp [49, tr. Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng pháp luật hình sự nói chung và qui định về tội giết người nói riêng giai đoạn này cũng đã có những bước tiến đáng kể, thực sự là công cụ hữu hiệu trong dau tranh phòng, chống tội phạm.
Tôi giết người theo qui định của pháp luật hình sự từ ngày thống nhất dat nước (1975) đến trước ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu luc Nam 1975, đất nước thống nhất, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ra đời. Vì phải tập trung sức người, sức của để khác phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước và ổn định cuộc sống cho nhân dân hai miền Nam - Bắc, chưa có điều kiện xây dựng hệ thống pháp luật mới nên từ năm 1976 đến trước khi có BLHS năm 1985, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam vẫn áp dụng một số van bản thời kì trước để trừng trị tội giết người; đó là: Thông tư 442/TTg ngày 19-01- 1955 của Thủ tướng Chính phủ, Sắc luật số 03/SL ngày 15-3-1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời và Thông tư số 03/SL-BTP-TT ngày 15-4-1976 của Bộ Tư pháp. Theo đó, "pham tội cốý giết người thì bị phạt tà từ mười lăm năm đến tà chung thân hoặc bi xứ tứ hình. Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể thấp hơn".
Cách qui định trên vừa thiếu cụ thể lại không rõ ràng. Vì vậy, việc ban hành BLHS là một tất yếu khách quan. Để đáp ứng yêu cầu này, ngày 27-6-1985, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLHS (gọi tat là BLHS năm 1985) - Bộ luật đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, với 12 chương và 280 điều [8]. Trong BLHS năm 1985 tội giết người được qui định tại một điều luật (Điều I1), với các loại cấu thành tội phạm khác nhau: cấu thành cơ bản, cấu thành tang nặng và cấu thành giảm nhẹ.
Đặc biệt, trong Bộ luật này một số TTDK tang nặng được qui định hệ thống và đầy đủ hơn cả, thậm chí có một số tình tiết lần đầu tiên dược qui định trong tội giết người; đó là: giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (doan 2 điểm b); vì lí do công vụ của nạn nhân (đoạn 2 điểm c); tái phạm nguy hiểm (doan 2 điểm g).