Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 1. Khái niệm tội cướp giật tài sản Trước khi làm rõ khái niệm của Tội cướp giật tài sản ta cần làm rõ khái niệm của tội phạm: Khái niệm tội phạm: tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy mặc dù Điều luật chỉ nêu tội danh mà không mô tả hành vi cướp giật tài sản, nhưng căn cứ vào lý luận và thực tiễn xét xử thì tội cướp giật tài sản thường xuất hiện với một số hành vi phổ biến sau: Người phạm tội có hành vi công khai giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Điểm nổi bật của tội cướp giật tài sản khi so sánh với những tội phạm khác là người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản mà họ khó có thể giữ được hoặc giằng lại được. thông thường tài sản mà người phạm tội cướp giật 7 có thể là loại tài sản gọn nhẹ như: Đồng hồ, dây chuyền vàng, điện thoại. hoặc những tài sản kồng kềnh như xe đạp, xe máy, ôtô.người phạm tội dùng những tài sản sau khi giật được làm phương tiện tẩu thoát.
Yếu tố bất ngờ trong Tội cướp giất tài sản cũng là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm. Hành vi công khai chiếm đoạt tài sản tức là người phạm tội không hề giấu diếm hành vi phạm tội của mình và ngay sau khi bị mất tài sản người bị hại biết ngay người giật tài sản của mình. Trong trường hợp này người phạm tội hoàn toàn không dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản cũng không đe doạ dùng vũ lực hoặc không dùng các thủ đoạn khác nhằm uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản. Có thể thấy tội cướp giật tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản và người phạm tội thực hiện một cách cố ý.
Mục đích chiếm đoạt có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Qua nghiên cứu tài liệu, giáo trình Luật hình sự, các bài viết trên tạp chí, bình luận khoa học BLHS và một số tài liệu khác, tác giả có thể khái quát tội cướp giật tài sản như sau: Tội cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý bằng cách nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 1.1 Khách thể của tội cướp giật tài sản Tội cướp giật tài sản không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu của người khác mà còn xâm hại đến quan hệ nhân thân nhưng trực tiếp vẫn là quan hệ sở hữu đối với tài sản của họ. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong điều luật khi quy định Tội cướp giật tài sản đã đưa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, đây là những tình tiết định khung hình phạt.
Hành vi cướp giật tài sản đã gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của 8 người bị hại ví dụ giật tài sản mà gây tai nạn cho người đi đường. Mặc dù việc gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không phải là đối tượng tác động mà người phạm tội nhằm vào, nhưng vẫn thực hiện, mà bất chấp hậu quả xảy ra. Các tội phạm xâm phạm sở hữu trong chương XVI BLHS năm 2015 đều có chung một khách thể là quan hệ sở hữu chính vì vậy để phân biệt Tội cướp giật tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, chúng ta phải dựa vào dấu hiệu hành vi khách quan và các dấu hiệu chủ quan khác mà không thể dựa vào yếu tố khách thể. Như vậy có thể khẳng định tội cướp giật tài sản đã đồng thời xâm phạm đến hai quan hệ xã hội là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân.
Đối tượng mà tội phạm tác động đến ở tội cướp giật tài sản là con người cụ thể và tài sản.2 Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản là công khai chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát. Đặc trưng của Tội cướp giật tài sản được chỉ rõ ngay trong tên của điều luật đó là hành vi giật tài sản, tức là giằng lấy, giật lấy tài sản một cách nhanh chóng. Dấu hiệu công khai: Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách công khai khi hình thức thực hiện cho phép chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi này xảy ra. Đây cũng là một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với những trường hợp phạm tội có tính lén lút, bí mật, gian dối khác như hành vi trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tính chất công khai của hành vi cướp giật tài sản chỉ là công khai về hành vi chứ không công khai về nhân thân của người phạm tội. Trong thực tế người phạm tội có che giấu thân phận của mình thì họ vẫn cấu thành tội cướp giật tài sản nếu thực hiện hành hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Thực tiễn cho thấy 9 thủ đoạn phạm tội cướp giật tài sản của người phạm tội có thể thực hiện là rất đa dạng như: lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản không chú ý, gặp vướng mắc hoặc các trường hợp khác như lái xe để giật tài sản. Việc phân tích các thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng có tác dụng để phân biệt tội cướp giật tài sản với các tội phạm khác ta cũng phải dựa vào thủ đoạn phạm tội này.
Dấu hiệu nhanh chóng: Đây là phương thức, thủ đoạn lợi dụng sơ hở hoặc là tạo ra sự sơ hở của chủ tài sản, người phạm tội nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát. Đây là dấu hiệu cơ bản quan trọng, bắt buộc phải có trong mặt khách quan của phạm. Đối với tội cướp giật tài sản thì đa phần tài sản bị chiếm đoạt có đặc điểm là gọn, nhẹ, dễ dịch chuyển hoặc một số trường hợp là tài sản cồng kềnh nhưng sau khi chiếm đoạt người phạm tội lại dùng chính tài sản đó làm phương tiện tẩu thoát như xe máy, ôtô. Chính vì vậy đặc điểm của tài sản cũng là căn cứ để đánh giá thế nào là dấu hiệu nhanh chóng.
Trong các dấu hiệu nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát, thì dấu hiệu nhanh chóng chiếm đoạt là dấu hiệu quan trọng nhất, đây là dấu hiệu bắt buộc, không thể thiếu trong cấu thành tội phạm. Dấu hiệu nhanh chóng là một trong những dấu hiệu giúp chúng ta có thể phân biệt tội cướp giật tài sản với các tội khác trong chương các tội xâm phạm sở hữu. Rõ ràng trong mặt khách quan của một số tội phạm xâm phạm sở hữu ở chương này không cần có dấu hiệu nhanh chóng. Ví dụ như tội cướp tài sản, người phạm tội cũng không chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng mà thông qua hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc dùng các thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hậu quả tội cướp giật tài sản xâm phạm đồng thời đến hai khách thể đó 10 là quyền sở hữu và quyền nhân thân nên hành vi phạm tội cũng sẽ gây ra hậu quả trước hết là những thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ. Qua nghiên cứu về lý luận tội phạm ta thấy tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, cho nên, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản, nếu người phạm tội chưa giật được tài sản thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Tội cướp giật tài sản là tội phạm nghiêm trọng nên pháp luật hình sự không quy định mức tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu cấu thành tội phạm.3 Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản là những biểu hiện bên trong của tội phạm, bao gồm lỗi, động cơ, mục đích. Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp mà không thể là lỗi có ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý.
Người phạm tội nhận thức được hành vi cướp giật tài sản là nguy hiểm cho xã hội thấy trước được hậu quả của tội phạm nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó. Người phạm tội cướp giật tài sản chỉ cấu thành tội phạm này khi họ có mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu như các tội cướp, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc tội cưỡng đoạt tài sản, thì mục đích chiếm đoạt tài sản có thể xảy ra trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng đối với tội cướp giật tài sản mục đích chiếm đoạt tài sản luôn có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi giật tài sản.4 Chủ thể của tội cướp tài sản Chủ thể của tội cướp giật tài sản được quy định trong bộ luật hình sự là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.