Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy Chương 2: Thực trạng tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƢỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƢỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma tuý Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hiện tượng tiêu cực trong xã hội, một trong những nguyên nhân làm lan tràn tệ nạn ma tuý, đe doạ quyền tự do, quyền được bảo vệ sức khoẻ của con người.
Quyền con người là một trong những quyền cơ bản luôn được coi trọng, đảm bảo cho con người được phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, đẩy lùi và xoá bỏ tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn ma tuý là mục tiêu hàng đầu trong mọi giai đoạn phát triển của nhà nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân: “Phòng chống, đẩy lùi các tệ nạn xã hội đặc biệt là ma tuý (…). Xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội”. Vì vậy, quy định tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong BLHS Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, là công cụ sắc bén của nhà nước để thực hiện nhiệm vụ nói trên.
Trước hết, cần hiểu khái niệm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý. Đây là vấn đề quan trọng của lý luận về tội phạm này, tạo cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác, đồng thời còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng đắn các quy phạm của BLHS. Nghiên cứu các quy định của PLHS Việt Nam về tội phạm ma tuý từ khi thành lập nước CHXHCN Việt Nam đến khi BLHS đầu tiên được chính thức 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ 01/01/1986 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện trong lần pháp điển hóa thứ hai ra đời BLHS năm 1999, cho thấy chưa có quy định pháp luật nào ghi nhận khái niệm tội phạm ma tuý nói chung và khái niệm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý nói riêng. Để làm rõ khái niệm của tội phạm này, trước hết cần nghiên cứu quá trình hình thành quy định tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong PLHS Việt Nam.
Thuật ngữ “ma tuý” lần đầu tiên chính thức được quy định tại Điều 203 BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 “Tội tổ chức dùng chất ma tuý”. Trong BLHS năm 1985, tội phạm liên quan đến ma tuý mới chỉ được quy định tại ba điều: Điều 97 quy định tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, trong đó hành vi buôn bán ma tuý được coi là buôn lậu; tội buôn bán hàng cấm (Điều 166); tội tổ chức dùng chất ma tuý (Điều 203). BLHS ra đời là một bước tiến quan trọng trong hoạt động lập pháp của nhà nước, là công cụ sắc bén để các cơ quan đấu tranh chống tội phạm một cách có hiệu quả trong đó có các tội phạm ma tuý. Tuy nhiên, vào thời điểm này, tội phạm về ma tuý đã được quy định nhưng còn mang tính chất chung nên khó vận dụng trong thực tiễn.
Hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý qua biên giới thì bị truy cứu TNHS theo tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97), còn hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong nội địa thì truy cứu TNHS theo tội buôn bán hàng cấm (Điều 166). Hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý đã có trên thực tế nhưng chưa được chính thức quy định là một tội phạm độc lập. Đây chỉ là một mắt xích, một dạng hành vi trong chuỗi các hành vi khách quan của tội tổ chức dùng chất ma tuý quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc quy định có tính chất khái quát chung cho nhiều loại hành vi như vậy sẽ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không làm rõ được những tình tiết cụ thể cũng như mức độ nguy hiểm của từng loại hành vi.
Trên thực tế, xuất phát từ những lý do khác nhau, người phạm tội không chỉ dừng lại ở chỗ tổ chức dùng chất ma tuý đơn thuần mà còn dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để có thể lôi kéo, cưỡng bức người khác dùng chất ma tuý. Về mặt khách quan, hành vi này khác hành vi tổ chức dùng chất ma tuý quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma tuý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 đã sửa đổi, cá thể hoá hành vi, tạo cơ sở để cá thể hóa TNHS và hình phạt. Tại Chương VII A “Các tội phạm về ma tuý” của Luật sửa đổi, bổ sung gồm 14 điều, trong đó có 13 điều quy định tội phạm (từ Điều 185a đến Điều 185n) và một điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 185o).
Luật sửa đổi tách Điều 96a thành bốn tội riêng biệt: Tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 185b), tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Điều 185c), tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 185d), tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 185đ); Có tám hành vi mới được quy định là tội phạm ma tuý, trong đó có hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý được chính thức quy định thành một tội danh riêng với hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Trong lần thứ hai pháp điển hóa LHS Việt Nam, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý được quy định tại Điều 200 BLHS năm 1999. So với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, Điều 200 BLHS năm 1999 có một số thay đổi nhất định, đáng chú ý là việc xoá bỏ áp dụng hình phạt tử hình đối với tội phạm này. Như vậy, trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 cũng như BLHS năm 1999, điều luật chỉ quy định tội danh cưỡng bức, lôi kéo người khác mà chưa có một khái niệm đầy đủ, cụ thể về tội phạm này.
Khái 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý chỉ được tiếp cận thông qua những giải thích cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm được quy định tại Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BCA ngày 05/8/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương VIIA “Các tội phạm về ma tuý” của BLHS đã được sửa đổi, bổ sung năm 1997 và được thay thế bằng Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý” của BLHS năm 1999 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp. Các văn bản pháp luật này đã giải thích cụ thể hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, các hướng dẫn cụ thể trên mới chỉ dừng lại ở việc giải thích có tính chất liệt kê hành vi khách quan của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý mà chưa thể hiện một cách đầy đủ, toàn diện về nội hàm khái niệm và bản chất của tội phạm này. Như vậy, qua nghiên cứu tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 1985 (sửa đổi năm 1997), BLHS năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy: Thứ nhất, tội phạm ma tuý nói chung và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý nói riêng được quy định trong chương “Các tội phạm về ma tuý” chứ không được quy định rải rác như trong BLHS năm 1985.
Điều này là hợp lý. Bởi lẽ, việc phân ra các chương về các tội phạm cụ thể dựa trên sự phân loại các khách thể loại xâm phạm của tội phạm. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là một tội 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm ma tuý cụ thể, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý và sử dụng chất ma túy của nhà nước, quyền tự do, sức khoẻ của con người, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và làm lan tràn tệ nạn nghiện hút. Đây cũng chính là khách thể của tội phạm này- những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.
Thứ hai, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi nguy hiểm cho xã hội. BLHS năm 1999 đã xoá bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm này, đồng thời áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung. Điều đó không có nghĩa là thái độ xử lý nghiêm khắc của nhà nước không còn hay việc đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này giảm đi mà vấn đề ở đây thuộc chính sách hình sự, chính sách nhân đạo của nhà nước. Mặt khác, quy định trên xuất phát từ một trong những đặc điểm của tội phạm ma tuý: Động cơ phạm tội là vì lợi nhuận cao.