Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong Bộ luật hình sự Việt Nam không đưa ra khái niệm về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuy nhiên, ta có thể tìm hiểu khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” qua các khái niệm “chất ma túy” khái niệm “tội phạm”, khái niệm “tàng trữ trái phép chất ma túy” và các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội danh này. Khái niệm “Chất ma túy”, Hiện nay, các nhà khoa học, các tổ chức trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa về ma túy. Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”. Liên hợp quốc định nghĩa về Ma túy như sau: “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng” Luật phòng, chống ma túy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa về Ma túy: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do chính phủ ban hành”; Trong luật này cũng nêu cụ thể “Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”; “Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.” [6] Tuy nhiên, không phải tất cả những chất mang đặc tính trên đều được coi là ma túy.
Ví dụ như chất Nicotine trong thuốc lá. Theo các nghiên cứu khoa học, Nicontine được ghi nhận như là một chất gây nghiện mạnh tương tự như Heroin và Cocain (hai loại ma túy thường gặp), Nicotine cũng là một chất gây 7 luan an hại đối với sức khỏe con người nếu sử dụng thường xuyên. Như vậy, Nicotine thỏa mãn khái niệm tổng quát về ma túy như có đặc tính gây nghiện, hướng thần, khi sử dụng sẽ gây hại cho sức khỏe. Nhưng chất này không được coi là chất ma túy thậm chí trên thị trường các sản phẩm chứa Nicotine (cụ thể là thuốc lá) vẫn được kinh doanh và sử dụng.
Vậy những chất, hợp chất nào được coi là ma túy? Trong khái niệm về “Chất ma túy” tại Luật phòng, chống ma túy có chỉ rõ “… được quy định trong các danh mục do chính phủ ban hành”. Để thực hiện chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy, Nhà nước ban hành danh mục các chất, hợp chất là ma túy cũng như là tiền chất ma túy. Mới nhất, tại nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất đã liệt kê 515 loại chất, hợp chất là ma túy, 44 loại chất, hợp chất được coi là tiền chất ma túy. Từ các phân tích trên có thể rút ra khái niệm: Ma túy là tên gọi của những chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp có đặc tính gây nghiện, hướng thần mà khi sử dụng sẽ gây hại cho sức khỏe, thay đổi trạng thái tâm lý của con người, được quy định trong các danh mục do chính phủ ban hành.
Khái niệm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Cũng như mọi nghiên cứu khoa học xã hội khác, việc xác định khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các nghiên cứu của bài viết. Vậy “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là gì? Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt nam không đưa ra khái niệm cụ thể của tội này. Tuy nhiên, do là một loại tội phạm, khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” mặc dù là khái niệm độc lập nhưng phải có tính chất cụ thể hóa khái niệm “Tội phạm” và hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung của khái niệm “Tội phạm”. Điều 8 BLHS năm 2015 quy định:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm 8 luan an phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Đ8] Khoản 1, Điều 249, BLHS 2015 quy định “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”[3.1 mục 3 phần II TTLT số 17 hướng dẫn “Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy…”[8] Trên cơ sở khái niệm “tội phạm” và các quy định về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trong hệ thống pháp luật hình sự, ta có thể đưa ra định nghĩa về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như sau: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự” 1. Đặc điểm của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Tính nguy hiểm cho xã hội: Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Nguy hiểm cho xã hội có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Trong tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tính nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở việc hành vi tàng trữ trái 9 luan an chất ma túy đã xâm phạm chế độ độc quyền trong việc cất giữ, lưu giữ chất ma túy của Nhà nước. Hành vi này sẽ tạo điều kiện để tệ nạn ma túy lan rộng. Ma túy là tệ nạn đặc biệt nguy hiểm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng, gây suy thoái nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người … gây bất ổn, mất an ninh trật tự và nguy hiểm cho người dân ngoài xã hội. - Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Trong tội Tàng trữ trái phép chất ma túy không đặt ra vấn đề pháp nhân phạm tội, được thể hiện bởi Điều 249 chỉ quy định chủ thể phạm tội là “người nào…” - Tính có lỗi: Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả của hành vi đó. Trong tội Tàng trữ trái phép chất ma túy người phạm tội luôn được xác định có lỗi cố ý trực tiếp. - Tính trái pháp luật hình sự: Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếu hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự. Đối với “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tính trái pháp luật hình sự được thể hiện ở việc nhà nước quy định loại tội phạm này tại Điều 249 BLHS 2015.
Mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thỏa mãn cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự được coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với nhà nước. Ngược lại, các hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không thỏa mãn những quy định của Điều luật trên thì không coi là tội phạm. Người thực hiện hành vi đó không bị xử lý hình sự mà chỉ bị xử lý bằng quy phạm pháp luật khác. Ví dụ: một cá nhân có hành vi tàng trữ Quả thuốc phiện khô có khối dưới 05 kilogam mà người đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của BLHS, hoặc đã bị xử phạt hành chính, bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì không bị xử lý hình sự mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
10 luan an - Tính phải chịu hình phạt: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị nhà nước nghiêm cấm. Do vậy, những người có hành vi phạm tội đều phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước là hình phạt. Nhà nước căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội để quy định mức hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định hình phạt đối với người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là tù có thời hạn và tù chung thân (tùy tính nguy hiểm của hành vi).
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 249, người phạm tội có thể bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung như phạt tiền, phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985. Nhận thức được tác hại to lớn do ma túy gây ra, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện.