Luận văn thạc sĩ về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và pháp lý.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

124
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1. Khái niệm và lịch sử lập pháp của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.2. Khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.3. Lịch sử lập pháp của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.4. Dấu hiệu pháp lý của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.5. Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.6. Mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.7. Chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.8. Mặt chủ quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

2. CHƯƠNG 2: ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ PHÂN BIỆT VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC

2.1. Đường lối xử lý tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam

2.2. Phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không có các tình tiết định khung hình phạt

2.3. Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt

2.4. Hình phạt bổ sung

2.5. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999

2.5.1. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cướp giật tài sản

2.5.2. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản

2.5.3. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản

2.5.4. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sản

2.5.5. Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

3.1. Thực trạng xét xử tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

3.2. Thực tiễn xét xử tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

3.3. So sánh thực trạng xét xử tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với các tội phạm và các tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

3.4. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

3.5. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

3.5.1. Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự để pháp điển hóa về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử

3.5.2. Tăng cường hướng dẫn, giải thích những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

3.5.3. Nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật hình sự và đấu tranh phòng, chống tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Tội này không chỉ gây ra thiệt hại cho cá nhân mà còn ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Việc nghiên cứu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là cần thiết để hiểu rõ hơn về các dấu hiệu pháp lý và cách thức xử lý trong thực tiễn.

1.1. Khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, không cần sự đồng ý của chủ sở hữu. Hành vi này thường diễn ra trong bối cảnh công cộng, gây ra sự lo ngại cho xã hội.

1.2. Lịch sử lập pháp về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999. Trước đó, tội này được quy định chung với các tội khác, dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định và xử lý.

II. Các dấu hiệu pháp lý của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Để xác định một hành vi có phải là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hay không, cần phải xem xét các dấu hiệu pháp lý cụ thể. Những dấu hiệu này bao gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm.

2.1. Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác. Tài sản này có thể là vật chất hoặc tài sản vô hình, nhưng phải có giá trị và có thể chuyển nhượng.

2.2. Mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện qua hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai, không cần sự đồng ý của chủ sở hữu. Hành vi này có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau.

III. Đường lối xử lý tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam

Luật hình sự Việt Nam quy định rõ ràng về các hình phạt đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Việc áp dụng hình phạt cần phải dựa trên các tình tiết cụ thể của từng vụ án.

3.1. Hình phạt chính cho tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Hình phạt chính cho tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có thể là phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi.

3.2. Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt

Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt bao gồm việc tái phạm, gây thiệt hại lớn cho tài sản của người khác, hoặc thực hiện hành vi trong bối cảnh có tổ chức.

IV. Thực trạng và thách thức trong việc xử lý tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Thực trạng xử lý tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hiện nay cho thấy nhiều thách thức trong việc áp dụng pháp luật. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp hiệu quả hơn để đối phó với loại tội phạm này.

4.1. Thực tiễn xét xử tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều vụ án liên quan đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản gặp khó khăn trong việc xác định tội danh và mức hình phạt phù hợp.

4.2. Những tồn tại và hạn chế trong công tác điều tra

Công tác điều tra tội công nhiên chiếm đoạt tài sản còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc thu thập chứng cứ và xác định đối tượng phạm tội.

V. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự. Điều này bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tội phạm này.

5.1. Đề xuất sửa đổi Bộ luật hình sự

Cần sửa đổi Bộ luật hình sự để làm rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, từ đó giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc áp dụng.

5.2. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản để nâng cao nhận thức của người dân và giảm thiểu tình trạng vi phạm.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Kết luận về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật. Tương lai, cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để ngăn chặn loại tội phạm này.

6.1. Tương lai của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự

Tương lai của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và xã hội, cũng như sự thay đổi trong nhận thức của người dân.

6.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo là cần có những nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tác động đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI NIỆM VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP CỦA TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là một trong số các tội xâm phạm sở hữu, lần đầu tiên được quy định trong một điều luật độc lập (Điều 137) của Bộ luật hình sự năm 1999 trên cơ sở tách tội cướp giật và tội công nhiên chiếm đoạt được quy định tại Điều 131 (Tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa) và Điều 154 (Tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân) theo Bộ luật hình sự năm 1985. Do Điều 137 Bộ luật hình sự không mô tả hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản mà chỉ nêu tội danh nên vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu, làm rõ khái niệm của tội phạm này để từ đó, đi sâu phân tích những đặc trưng, đánh giá thực tiễn, đường lối xử lý, định tội danh và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Để hiểu khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, cần phân tích và làm rõ các khái niệm "tài sản"; "chiếm đoạt tài sản", "công nhiên chiếm đoạt tài sản" từ góc độ Luật hình sự, trên cơ sở đó, phân tích, đưa ra những đặc trưng thuộc về nội hàm khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Khái niệm "tài sản", nghĩa Hán - Việt là khái niệm dùng để "chỉ chung tiền bạc, của cải" 16, tr. 622; "tiền của, của cải nói chung" 9, tr. 602; là "của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng" 47, tr. Theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005, tài sản được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản", trong đó quyền tài sản là "quyền trị giá được bằng tiền 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" (Điều 181).

Tuy nhiên, từ góc độ luật hình sự, đối với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt tài sản trong đó có tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, không phải lúc nào tài sản theo quan niệm của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng của tội phạm này bởi lẽ không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể công nhiên lấy được từ chủ tài sản, ví dụ như các quyền tài sản. Đây là một dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân và cố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận, do đó, nó không thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi người khác được, vì về mặt pháp lý "quyền tài sản" phải được pháp luật thừa nhận thì mới có giá trị. Ví dụ: Quyền của chủ nợ, quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá… Những quyền này gắn liền với nhân thân của một chủ thể xác định. Mọi trình tự, thủ tục thực hiện các quyền này đều tuân theo quy định của pháp luật, do đó, tội phạm không thể chiếm đoạt được "loại tài sản này" nên nó không thể là đối tượng tác động của tội "công nhiên chiếm đoạt tài sản".

Ngoài ra, một số tài sản khác là bất động sản có tính chất vật lý cố định; một số loại tài sản chưa xác định được chủ sở hữu hoặc tài sản không có giá trị sử dụng, một số loại giấy tờ có giá và một số loại tài sản có tính chất và công dụng đặc biệt cũng không thể là đối tượng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Khái niệm "chiếm đoạt", theo nghĩa Hán - Việt, "Chiếm" là "lấy làm của mình"; "chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" 9, tr. 140; chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế" 9, tr. 108; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" 47, tr.

Dưới góc độ pháp luật hình sự "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình 39, tr. 366 hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm" 3, tr. Ở đây, khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" 47, tr. 1363, "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản).

Hành vi chiếm đoạt tài sản có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, xét về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Hành vi chiếm đoạt được thể hiện dưới những dạng hành vi cụ thể khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt với tài sản chiếm đoạt cũng như vào hình thức chiếm đoạt cụ thể. Thứ hai, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản.

Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến hành vi chiếm đoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. Thứ ba, xét về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.

Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt. Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là bắt đầu khi người phạm tội bắt đầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, để tạo khả năng đó cho mình. Khi người phạm tội đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt thì lúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn thành, người phạm tội coi là đã chiếm đoạt được tài sản. Dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục đích chiếm đoạt, là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được.

Khái niệm "công nhiên", theo nghĩa Hán - Việt được giải thích là "rõ ràng như vậy, ai cũng thấy"; thuật ngữ "công khai" được hiểu là "mở chung cho mọi người cùng thấy, không dấu diếm" 16, tr. 114; "công nhiên" còn được giải thích là "một cách công khai, rõ ràng, không giấu giếm" 47, tr. 457; "đường hoàng trước mặt mọi người" 17, tr. 143; "rõ ràng, ai cũng có thể thấy" - đồng nghĩa với từ "đàng hoàng - một cách ung dung" và trái nghĩa với từ "lén lút- cố ý dấu diếm, vụng trộm, không để lộ ra do có ý gian" 9, tr.

Khái niệm "công nhiên chiếm đoạt tài sản" được hiểu là "ngang nhiên chiếm đoạt tài sản do người khác giữ mà không chạy trốn" 43, tr. 198; "là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ" 39, tr. Về lý luận, "công nhiên chiếm đoạt tài sản" được hiểu là hành vi công khai lấy tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản", đó là "hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai" 25, tr. Dưới góc độ khoa học pháp lý, công nhiên chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng chủ tài sản không có điều kiện bảo vệ tài sản hoặc ngăn cản hành vi phạm tội mà chiếm đoạt tài sản của họ" 3, tr.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi của một người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện có tính chất công khai, lợi dụng tình trạng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản để chiếm đoạt tài sản. Tính chất công khai thể hiện ở chỗ, người thực hiện hành vi phạm tội không cần và không có ý định có bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản, họ cũng không phải đối phó với bất kỳ sự phản ứng nào của chủ tài sản vì lý do chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản do đang ở trong hoàn cảnh không thể ngăn cản hành vi phạm tội. Khái niệm tội phạm, theo Điều 8 Bộ luật hình sự: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa 28, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến tội phạm chiếm đoạt tài sản, một vấn đề đang được quan tâm trong xã hội hiện nay. Tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý, thực tiễn áp dụng và những thách thức trong việc xử lý các vụ án liên quan đến tội phạm này. Bằng cách làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt tương ứng, tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về luật hình sự mà còn nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ tài sản của mình.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật việt nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại, nơi cung cấp thông tin về các hình thức hợp đồng tài chính. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người động vật thực vật trong luật hình sự việt nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tội phạm khác trong luật hình sự. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở việt nam sẽ cung cấp cái nhìn về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý hiện hành tại Việt Nam.