Tổng quan nghiên cứu

Dịch bệnh truyền nhiễm luôn là hiểm họa nghiêm trọng đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người, an ninh lương thực và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Theo thống kê y tế toàn cầu, chỉ riêng đại dịch Ebola bùng phát tại 10 quốc gia đã ghi nhận 20.181 ca mắc với 7.906 trường hợp tử vong. Tại Việt Nam, chỉ tính riêng năm 2014 đã có tới 333.343 người bị động vật cắn phải điều trị dự phòng bệnh dại cùng 5.817 trường hợp mắc sởi xác định trên toàn quốc. Đứng trước diễn biến phức tạp của các ổ dịch cúm A-H5N1, dịch tai xanh ở lợn và bệnh lở mồm long móng, việc kiểm soát nguồn lây nhiễm trở thành nhiệm vụ sinh tử.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào sự bất cập giữa tình hình dịch bệnh gia tăng và thực tiễn xử lý pháp lý, khi phần lớn các hành vi vi phạm nghiêm trọng chỉ bị xử lý hành chính mà thiếu vắng sự răn đe của luật hình sự. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186) và Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187) trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2010 đến năm 2014. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc đánh giá toàn diện 39.999 vụ vi phạm môi trường, từ đó cung cấp luận cứ vững chắc nhằm nâng tỷ lệ xử lý đúng tội danh, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và tạo hành lang pháp lý đồng bộ bảo vệ an ninh sinh thái quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm truyền thống trong khoa học luật hình sự Việt Nam, phân tích 4 yếu tố nền tảng cấu thành tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể trực tiếp của nhóm tội phạm này là trật tự quản lý an toàn môi trường sinh thái, tính mạng và sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết an ninh sinh thái để luận giải tính chất nguy hiểm của việc phát tán mầm bệnh qua biên giới và liên vùng.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được xây dựng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:

  • Khái niệm dịch bệnh nguy hiểm: Phân loại theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 gồm 3 nhóm bệnh (Nhóm A với các bệnh đặc biệt nguy hiểm như tả, cúm A-H5N1; Nhóm B như dại, sốt xuất huyết; Nhóm C gồm các bệnh ít nguy hiểm hơn).
  • Khái niệm lây lan dịch bệnh: Cơ chế truyền dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vật trung gian truyền bệnh như côn trùng, phương tiện giết mổ hoặc chất thải.
  • Cấu thành tội phạm hình thức và vật chất: Phân định Điều 186 (tội phạm có cấu thành hình thức, chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm) và Điều 187 (tội phạm có cấu thành vật chất, đòi hỏi dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính).
  • Vùng có dịch và khu vực hạn chế lưu thông: Ranh giới hành chính đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức công bố dịch trên phương tiện truyền thông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường thuộc Bộ Công an, bao gồm tổng số 39.999 vụ vi phạm quy định bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2010 - 2014. Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 2.084 vụ việc điển hình nhằm bóc tách tỷ lệ vi phạm theo từng lĩnh vực kinh tế và phương thức thực hiện.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là phương pháp phân tầng kết hợp thống kê toàn diện theo chuỗi thời gian 5 năm, đảm bảo tính đại diện trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm luật học so sánh kết hợp tổng hợp thực tiễn tư pháp vì phương pháp này cho phép nhận diện rõ nét độ vênh giữa các quy định của Bộ luật Hình sự với hệ thống văn bản dưới luật như Luật Thú y và Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích số liệu được thực hiện liên tục trong mốc thời gian nghiên cứu từ đầu năm 2010 đến hết tháng 12 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình hình vi phạm pháp luật về môi trường trong giai đoạn 2010 - 2014 diễn biến hết sức phức tạp và gia tăng mạnh về số lượng. Tổng số vụ vi phạm do lực lượng Cảnh sát môi trường phát hiện lên tới 39.999 vụ, tăng từ 5.773 vụ năm 2010 lên đỉnh điểm 13.782 vụ vào năm 2013 (tăng 138,7%), trước khi ghi nhận 6.339 vụ vào năm 2014.

Thứ hai, phân tích cơ cấu chủ thể trong 2.084 trường hợp điển hình cho thấy pháp nhân và các cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng vi phạm áp đảo. Cụ thể, các nhà máy xí nghiệp công nghiệp chiếm 19,07% (398 vụ), cơ sở tiểu thủ công nghiệp chiếm 8,6% (1019 vụ), các đơn vị xây dựng và thương mại chiếm 4,8% (101 vụ). Trong nhóm hành vi xâm phạm môi trường và tài nguyên sinh thái, hành vi làm lây lan dịch bệnh cho người chiếm tỷ lệ 10,7%, vượt qua cả hành vi gây ô nhiễm nguồn nước (7,1%).

Thứ ba, tồn tại khoảng trống pháp lý nghiêm trọng giữa thực tế bùng phát dịch và kết quả xử lý hình sự. Trong giai đoạn khảo sát, dịch cúm gia cầm đã lan rộng trên 158 xã thuộc 33 tỉnh thành làm 212.600 con gia cầm mắc bệnh, dịch lở mồm long móng xuất hiện tại 81 ổ dịch thuộc 13 tỉnh với 2.978 con gia súc bị nhiễm, và 59.579 ha nuôi tôm bị thiệt hại dịch bệnh trong năm 2014. Mặc dù thiệt hại kinh tế ước tính hàng trăm tỷ đồng, số vụ án được đưa ra khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 186 và Điều 187 gần như bằng 0, 100% các vụ việc đều chuyển hướng sang xử phạt vi phạm hành chính.

Thảo luận kết quả

Thực trạng khoảng trống xử lý hình sự xuất phát từ ba nhóm nguyên nhân cốt lõi. Về mặt lập pháp, quy định tại Điều 186 và Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn mang tính định tính. Quy định cấu thành tội phạm tại Điều 187 bắt buộc phải có dấu hiệu "gây hậu quả nghiêm trọng", song các cơ quan tư pháp trung ương chưa ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể mức thiệt hại bao nhiêu triệu đồng hoặc bao nhiêu cá thể động thực vật bị chết thì cấu thành hậu quả nghiêm trọng.

Về mặt tố tụng và giám định, năng lực cán bộ điều tra đối với các mẫu phẩm sinh học còn hạn chế. Hoạt động phối hợp liên ngành giữa cơ quan điều tra, cơ quan thú y và kiểm dịch thực vật còn lỏng lẻo, dẫn đến việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vận chuyển trái phép với việc bùng phát ổ dịch gặp bế tắc. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện biến động vi phạm qua các năm 2010 - 2014 và bảng đối sánh 4 yếu tố cấu thành giữa hai điều luật, giúp minh chứng rõ nét sự thiếu tương thích trong kỹ thuật lập pháp hình sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội cần sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Hình sự về nhóm tội làm lây lan dịch bệnh theo hướng lượng hóa cụ thể các dấu hiệu định tội và định khung. Cần bổ sung quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, đồng thời xác định rõ thiệt hại tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc tỷ lệ lây lan trên 10% tổng đàn vật nuôi là căn cứ xác định hậu quả nghiêm trọng, hoàn thành mục tiêu lập pháp trong lộ trình sửa đổi Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết áp dụng Điều 186 và Điều 187. Văn bản cần làm rõ danh mục các hành vi khác làm lây lan dịch bệnh như trốn tránh cách ly y tế, cố tình vận chuyển động vật qua vùng dịch, hướng tới mục tiêu chuyển hóa ít nhất 15% đến 20% các vụ vi phạm nghiêm trọng từ xử lý hành chính sang truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, Bộ Công an cần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và trang bị kỹ thuật hiện đại cho lực lượng Cảnh sát môi trường. Tổ chức đào tạo kiến thức dịch tễ học thực tiễn cho 100% cán bộ điều tra chuyên trách trong giai đoạn 2 năm tới, chuẩn hóa quy trình lấy mẫu, bảo quản và giám định vi sinh vật gây hại phục vụ công tác thu thập chứng cứ.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân các cấp cùng các cơ quan kiểm dịch liên ngành thiết lập cơ chế giám sát và chia sẻ thông tin dữ liệu điện tử 24/7 tại các cửa khẩu, trạm kiểm dịch đầu mối. Giải pháp này nhằm kiểm soát 100% các lô hàng động thực vật nhập khẩu, đặt mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 40% nguy cơ lây lan dịch bệnh lạ vào nội địa trong các giai đoạn cao điểm bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và tư pháp: Các đại biểu Quốc hội, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo giá trị để đánh giá bất cập thực tiễn, phục vụ công tác sửa đổi luật và hoàn thiện hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định xử lý tội phạm môi trường.

Nhóm lực lượng Cảnh sát môi trường và cơ quan kiểm dịch: Cán bộ thuộc lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, cán bộ thú y, bảo vệ thực vật tại 63 tỉnh thành có thể áp dụng quy trình phân tích dấu hiệu pháp lý và phương pháp thu thập chứng cứ được đề xuất trong luận văn vào các chuyên án đấu tranh thực tế.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên luật: Giảng viên các trường đại học đào tạo luật, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự có thể khai thác nguồn tài liệu gồm 2 bảng thống kê, hệ thống lý luận cấu thành tội phạm và chuỗi số liệu 39.999 vụ vi phạm phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm doanh nghiệp và cơ sở chăn nuôi, xuất nhập khẩu: Các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến thực phẩm và thương mại xuất nhập khẩu nông sản có thể tham khảo để nâng cao nhận thức tuân thủ pháp luật, kiểm soát rủi ro pháp lý liên quan đến kiểm dịch và hạn chế tối đa vi phạm quy chế phòng chống dịch.

Câu hỏi thường gặp

Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người khác tội lây truyền HIV như thế nào trong luật hình sự? Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người quy định tại Điều 186 bảo vệ trật tự an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng trước các bệnh truyền nhiễm thông thường thuộc Nhóm A và Nhóm B. Trong khi đó, hành vi làm lây truyền HIV được điều chỉnh độc lập tại Điều 117 và Điều 118 Bộ luật Hình sự với khách thể trực tiếp là quyền sống của cá thể con người.

Tại sao giai đoạn 2010 - 2014 rất ít hành vi làm lây lan dịch bệnh bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Thực tiễn 5 năm khảo sát cho thấy không có vụ án nào bị khởi tố do thiếu văn bản hướng dẫn định lượng dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc chứng minh yếu tố lỗi cố ý và mối liên hệ nhân quả giữa hành vi di chuyển mầm bệnh với hậu quả bùng phát ổ dịch đối với 212.600 con gia cầm nhiễm bệnh vượt quá khả năng giám định thực tế của điều tra viên.

Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm quy định tại Điều 187 là gì? Điều 187 là tội phạm có cấu thành vật chất, bắt buộc phải có một trong hai điều kiện: hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái động thực vật, hoặc người thực hiện hành vi trước đó đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi làm lây lan dịch bệnh mà vẫn tiếp tục vi phạm.

Thẩm quyền công bố dịch bệnh truyền nhiễm được pháp luật quy định cụ thể ra sao? Căn cứ Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền công bố dịch nhóm B và C. Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố dịch nhóm A khi có từ hai tỉnh trở lên có dịch. Thủ tướng Chính phủ công bố dịch khi bệnh lây lan nhanh ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh quốc gia.

Pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm lây lan dịch bệnh trong giai đoạn nghiên cứu không? Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, chủ thể của tội phạm chỉ giới hạn là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 16 tuổi trở lên. Do đó, trong 39.999 vụ việc bị phát hiện giai đoạn 2010 - 2014, các pháp nhân có vi phạm kiểm dịch chỉ bị áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cấu thành tội phạm của nhóm tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, động vật, thực vật trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.
  • Công trình đã phân tích thực trạng tư pháp qua bộ dữ liệu thực tế gồm 39.999 vụ việc vi phạm môi trường và chỉ ra sự thiếu hụt hoàn toàn các bản án hình sự trong giai đoạn 2010 - 2014.
  • Đề tài làm sáng tỏ nguyên nhân lập pháp và tố tụng dẫn đến tình trạng khoảng trống trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phát tán mầm bệnh nguy hiểm.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn định lượng thiệt hại và nâng cao năng lực giám định điều tra đã được đề xuất cụ thể.
  • Nghiên cứu định hướng lộ trình thực thi đến giai đoạn áp dụng Bộ luật Hình sự mới nhằm bảo vệ vững chắc an ninh sinh thái và an toàn sức khỏe nhân dân.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ thạc sĩ luật học tiếp cận đa chiều về cả lý luận và thực tiễn xử lý tội phạm làm lây lan dịch bệnh trên phạm vi toàn quốc. Để tìm hiểu chi tiết các luận cứ pháp lý và bộ dữ liệu thống kê chuyên sâu, quý độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan thực thi pháp luật nên tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Thị Kim Thanh.