Chương I các tội xâm phạm an ninh Quốc gia: “Người nào nhằm chống lại chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm” [30]. Như vậy cùng là hành vi chống người thi hành công vụ nhưng tùy vào từng hoàn cảnh, mục đích và hậu quả khác nhau thì sẽ bị xem là các loại tội phạm khác nhau và có các mức xử lý khác nhau. Những quy định về Tội chống người thi hành công vụ và các hành vi liên quan đến người thi hành công vụ được quy định trong giai đoạn này mà cụ thể là trong Bộ luật Hình sự năm 1985 tuy chưa cụ thể và có phạm vi điều chỉnh chưa thực sự hợp lý nhưng đã phần nào cho thấy thực trạng về Tội chống người thi hành công vụ ở nước ta trong giai đoạn này. Thông qua đó cũng thể hiện sự quan tâm của các nhà lập pháp trong việc điều chỉnh các hành vi liên quan đến người thực thi công vụ bao gồm việc: bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thi hành công vụ, xét xử những hành vi chống người thi hành công vụ cũng như xử lý những sai phạm từ phía người thi hành công vụ.
Năm 1999 Bộ luật Hình sự thứ hai của nước ta được ban hành, sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã thể hiện một bước phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn cả nước. Trên cơ sở những nền tảng của Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện, quy định một cách tương đối hệ thống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nguyên tắc, chế định chung của chính sách hình sự. Hầu như các hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được luật hóa, được coi là tội phạm và được xác định hệ thống hình phạt khá toàn diện. Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 thuộc Chương XX Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
Cụ thể như sau: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Phạm tội nhiều lần; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; Gây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm nguy hiểm. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 phần tội phạm đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, trách nhiệm hình sự được phân hoá cao hơn, cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm. Cùng với việc tách tội danh, tách khung hình phạt, nhiều loại tình tiết định khung hình phạt mới đã được quy định bổ sung vào trong BLHS năm 1999, đó là những tình tiết định khung tăng nặng hình phạt chưa được quy định trong BLHS năm 1985.
Những tình tiết này có thể được quy định ở một tội danh hoặc ở nhiều tội danh khác nhau. Sự phát triển này có thể nhìn thấy rõ trong quy định về Tội chống người thi hành công vụ. So sánh những quy định về Tội chống người thi hành công vụ ở BLHS năm 1985 với BLHS năm 1999 chúng ta dễ dàng nhận ra những thay đổi giữa hai điều luật như: Về hình phạt: Hình phạt cải tạo không giam giữ đã được tăng lên từ 1 năm (Khoản 1 Điều 205 BLHS năm 1985) lên thành 3 năm (Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999); Hình phạt tù từ 2 năm đến 10 năm ở Khoản 2 (Điều 205 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BLHS năm 1985) được giảm xuống còn từ 2 năm đến 7 năm tại Khoản 2 (Điều 257 BLHS năm 1999). Về cấu thành tội phạm: Không quy định tình tiết loại trừ tội phạm trong Khoản 1 Điều 205 BLHS năm 1985 “nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109” tại Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999.
Tại khoản 2 Điều 257 BLHS năm 1999 đã bổ sung và quy định cụ thể, rõ ràng hơn về những tình tiết định khung tăng nặng, theo đó không chỉ có tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” như quy định tại Khoản 2 Điều 205 BLHS năm 1985 mới được xem là tình tiết định khung tăng nặng mà còn bổ sung thêm các tình tiết khác, quy định như sau: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Phạm tội nhiều lần; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; Gây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm nguy hiểm. Nhìn chung những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội chống người thi hành công vụ đã có sự cụ thể và rõ ràng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xét xử, đặc biệt là những quy định cụ thể tại Khoản 2 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh phù hợp và sát sao hơn với thực tiễn tình hình Tội chống người thi hành công vụ. Tuy nhiên theo ý kiến của bản thân tác giả, cũng như trên cơ sở thực tiễn của Tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn hiện nay thì một số sửa đổi về Tội chống người thi hành công vụ tại Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 so với những quy định tại Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 1985 là chưa thực sự phù hợp: - Việc giảm khung hình phạt cao nhất tại khoản 2 từ 10 năm xuống còn 7 năm là quá nhẹ trong khi đó tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ngày càng phức tạp, nguy hiểm và có chiều hướng gia tăng về cả số lượng và nghiêm trọng hơn về hậu quả so với thời kỳ ban hành Bộ luật Hình sự năm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tội phạm ngày càng phức tạp, nhưng hình phạt lại được giảm nhẹ, đó là một trong những nguyên nhân khiến pháp luật không thực sự phát huy được hiệu quả trong công cuộc ngăn ngừa và phòng chống Tội chống người thi hành công vụ.
- Hình phạt cải tạo không giam giữ được tăng từ một năm lên ba năm, thực sự việc tăng thời hạn của hình phạt này cũng không phải là một giải pháp tích cực, bởi trên thực tế hiệu quả của hình phạt này rất thấp. Khoản 1, Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên kế thừa quy định loại trừ tội phạm “ nếu không thuộc trường hợp quy định ở điều…”, quy định như vậy sẽ làm rõ hơn về Tội chống người thi hành công vụ tránh sự nhầm lẫn trong quá trình xét xử, bởi như đã nói, hành vi chống người thi hành công vụ là cơ sở dấu hiệu của nhiều tội phạm khác. Nhìn lại chặng đường phát triển của Luật Hình sự Việt Nam nói chung và Tội chống người thi hành công vụ nói riêng từ năm 1945 đến năm 1999, chúng ta dễ dàng nhận ra những bước phát triển, những nỗ lực hoàn thiện của các nhà làm luật, nhằm đưa pháp luật đi vào đời sống một cách hiệu quả và sát thực nhất. Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật về Tội chống người thi hành công vụ nói riêng là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi các nhà làm luật phải nắm bắt rõ tình hình thực tiễn, có cái nhìn tổng quát về tình hình tội phạm từ đó có những sửa đổi phù hợp với hệ thống pháp luật chung cũng như tình hình xã hội.
Những khái niệm có liên quan đến tội chống ngƣời thi hành công vụ 1. Khái niệm về công vụ Công vụ là một khái niệm rộng và có ý nghĩa quan trọng trong nền hành chính nhà nước. Công vụ hợp thành từ nhiều yếu tố như: thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội do công chức nhân danh nhà nước tiến hành.
Còn hoạt động công vụ chính là việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước và được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội do công chức thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hoạt động công vụ còn là những hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền công vụ được). Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:“Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội. Nghị quyết Nghị quyết số 04/ HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng về Điều 101 Tội giết người của BLHS năm 1985 cũng đã định nghĩa khái niệm công vụ như sau:“Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện”.
Từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra những đặc điểm và tính chất của công vụ cũng như mục đích phục vụ nhân dân và xã hội của công vụ: Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục đích lợi nhuận; chủ thể thực thi công vụ là công chức. Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do công chức, nhân danh nhà nước tiến hành.