Chương 1: Một số vấn đề về tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam Chương 2: Tình hình tội buôn lậu và thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2013 Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn lậu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung 1. Khái niệm tội buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội mà nguồn gốc của nó là từ xã hội và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của xã hội.
Mỗi một quốc gia, để bảo vệ lợi ích của nước mình, phù hợp với tập quán thương mại quốc tế đều đưa ra những chính sách ngăn chặn và làm giảm bớt tác hại của loại tội phạm này. Ở nước ta, trong những năm gần đây tình hình buôn lậu diễn ra rất phức tạp, tác động xấu tới sự phát triển kinh tế - xã hội như: Gây thất thu thuế cho Nhà nước, đe dọa phá vỡ chính sách kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng cũng như đến trật tự quản lý kinh tế. Thuật ngữ “buôn lậu” đã xuất hiện từ lâu trong các văn bản của Nhà nước ta. Thông tư số 33-VH/HS ngày 5-7-1958 của Bộ Tư pháp đã quy định cụ thể việc xử lý buôn lậu.
Nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa III) ngày 12/1/1974 cũng đã nhấn mạnh: “ Phải tìm cho ra và nghiêm trị bọn lưu manh, trộm cắp, đầu cơ, buôn lậu chuyên nghiệp…” [39]. Vào thời điểm đó, theo từ điển nghiệp vụ phổ thông của Bộ Công an thì buôn lậu được hiểu là: “mua bán lén lút, trái phép những hàng hóa thuộc diện Nhà nước cấm vận hoặc Nhà nước thống nhất quản lý”[40]. Theo “Từ điển tiếng Việt”, “buôn” được hiểu là việc mua đi bán lại một loại hàng hóa nào đó nhằm kiếm lợi nhuận, “lậu” chỉ sự không chính đáng, lén lút, trái pháp luật, “buôn lậu là buôn bán hàng hóa trốn thuế hoặc hàng quốc cấm”[25]. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa thông thường chúng ta nhận thấy, buôn lậu chỉ đơn giản là hành vi buôn bán những mặt hàng cấm hoặc những hàng hóa trốn đóng thuế theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam” cũng giải thích về khái niệm buôn lậu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhưng cụ thể hơn, rõ ràng hơn cách giải thích nói trên trong “Từ điển tiếng Việt”: “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc về di tích lịch sử, văn hóa, những hàng cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan”[19], tuy nhiên cách giải thích này vẫn chưa đúng hoàn toàn với cách hiểu của Luật hình sự Việt Nam về hành vi buôn lậu. Bộ luật hình sự Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999, sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự 1999) quy định tội buôn lậu tại Điều 153: “Người nào buôn bán trái phép qua biên giới…hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa,…hàng cấm có số lượng lớn…” Căn cứ vào Điều 153 Bộ luật hình sự 1999 có thể đưa ra khái niệm về tội buôn lậu như sau: “Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới quốc gia các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, các loại vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, các loại hàng cấm nhằm mục đích kiếm lời”. Từ khái niệm trên có thể thấy rằng giữa khái niệm “buôn lậu” hiểu theo nghĩa thông thường và khái niệm “buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam có sự khác biệt. So với khái niệm “buôn lậu” trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” có thể thấy rằng khái niệm “buôn lậu” với ý nghĩa là một tội phạm trong Bộ luật hình sự phải có yếu tố bắt buộc là “qua biên giới”, nếu hành vi buôn bán các mặt hàng như kể trên mà không qua biên giới thì đó không phải là tội buôn lậu, đồng thời, đối tượng của hành vi buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam được mở rộng hơn vì bên cạnh hàng hóa cấm, đối tượng của tội buôn lậu trong Bộ luật hình sự còn bao gồm: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa.
So với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm “buôn lậu” trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam thì khái niệm “buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam cũng có điểm khác biệt về đối tượng của tội buôn lậu, trong Bộ luật hình sự, không chỉ có ngoại tệ mà cả tiền Việt Nam cũng là đối tượng của tội buôn lậu, đồng thời tội buôn lậu trong Bộ luật hình sự còn có thêm dấu hiệu mục đích của người phạm tội là mục đích kiếm lời, đây là một dấu hiệu giúp phân biệt giữa tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu Tội buôn lậu với tính chất là một hiện tượng tiêu cực của xã hội đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khiến cho Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa xuất nhập khẩu, gây thất thoát thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hóa; làm cho thị trường hàng hóa bị rối loạn, mất ổn định, làm cho sự cạnh tranh trên thị trường thiếu lành mạnh. Để đấu tranh với hiện tượng tiêu cực này, Nhà nước ta đã đưa ra rất nhiều biện pháp để ngăn chặn và tiến tới loại trừ hành vi này. Nhận thức được tác hại của hành vi buôn lậu nên từ rất sớm, hoạt động chống buôn lậu hàng hóa qua biên giới đã được các triều đại phong kiến Việt Nam đề cao, coi trọng.
Ngay từ thời Lê (thế kỷ XV) đã có luật pháp quy định việc xử phạt đối với những hành vi buôn lậu. Điều 221 Bộ Quốc triều Hình Luật quy định về việc chống buôn lậu đối với các quan lại như sau: “Các quan vâng mệnh triều đình đi sứ nước ngoài mà chỉ lo buôn bán thì phải tội biếm hay đồ. Nếu là vật quý lạ, cùng là sách vở, và các thứ thuốc men, thì cho phép được mua. Khi về nước đến quan ải phải khai rõ từng thứ; quan ở trấn ấy, sai quan cấp dưới đệ trình các thứ đó về kinh để kiểm soát; nếu có thứ gì đáng dâng lên vua dùng, thì sẽ trả lại tiền mua thứ ấy; còn các thứ khác sẽ trả lại cho người đi sứ.
Nếu giấu giếm không khai thực hiện đều phải xử tội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biếm hay bãi chức, đồ vật sẽ bị tịch thu sung công” [41]. Điều 615 Bộ Quốc triều Hình Luật còn quy định: “Người ở Vân Đồn, chở hàng hóa Trung Quốc lên kinh thành, mà không có giấy An Phủ ty cấp cho, khi đến bến Đông Triều lại không đến kho Đề bạc ty kiểm soát, đã đem đi bán lén lút thì đều phải biếm một tư và phạt tiền 100 quan; thưởng người tố cáo một phần ba (số tiền phạt). Nếu đem “hàng hóa đến các nơi làng mạc bán giấu giếm thì xử biếm ba tư và phạt tiền 200 quan; thưởng cho người tố cáo một phần ba…”[42]. Năm 1802 với sự ra đời của triều Nguyễn, Vua Gia Long đã ban hành Hoàng Việt Luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long), trong bộ luật này, tội buôn lậu cũng được quy định nhưng chưa rõ ràng, cụ thể là tại Điều 133 Hoàng Việt Luật lệ quy định: “Phàm là thuyền to của khách buôn từ biển cả cập bến thì phải kê khai thiệt, hết tất cả các hàng hóa cho quan trích lấy một phần.
Nếu ghé vào bến thấp lầy của các nhà mối lái để buôn bán với họ mà không báo thì phạt 100 trượng. Tuy có khai báo mà không khai báo thiệt thì như tội trên. Các hàng hóa không báo và báo không hết, cho nhập vào quan, ai cất giấu thì chịu cùng tội. Ai chỉ bắt được thì được thưởng bạc 20 lạng”[28].
Như vậy, có thể thấy rằng ngay từ thời phong kiến, mặc dù hành vi mua bán trái phép qua biên giới không được định nghĩa rõ ràng là hành vi buôn lậu như Bộ luật hình sự hiện nay nhưng với những quy định trên cũng đã chứng tỏ rằng trong xã hội phong kiến tác hại của buôn lậu đã được nhìn nhận và quan tâm. Sau Cách mạng Tháng tám 1945, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật đấu tranh chống loại tội phạm này. Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên phải kể đến đó là Sắc lệnh số 45 ngày 9/10/1945 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký quy định cấm xuất cảnh kho thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc, quy định này nhằm góp phần đẩy lùi nạn đói năm 1945. Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật nhằm đấu tranh với loại tội phạm này và một trong những văn bản quan trọng phải kể 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến đó là “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép” ban hành ngày 30/6/1982.
Khác với các văn bản trước đó, Pháp lệnh ngày 30/6/1982 đã quy định rõ ràng một tội danh với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó, có thể nói, tại văn bản này khái niệm tội buôn lậu mới chính thức được ghi nhận trong văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước.