ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nhiều năm qua các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu thực hiện ở nước ta đã đạt được những thành công lớn: tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm trong chương trình tiêm chủng mở rộng dần bị đẩy lùi và một sô' bệnh được thanh toán; Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em ngày càng giảm; Chăm sóc sức khoẻ sinh sản ngày càng được nâng cao. Tất cả các chương trình này đều được triển khai xuống trực tiếp đến người dân và dể quy ết đ ịnh s ự thành công thì đội ngũ y tế cơ sở đóng góp những vai trò quan trọng. Khi thực hiện chương trình này không thể một mình Trạm y tế xã làm được tất cả, họ phải dựa rất nhiều vào mạng lưới y tế thôn bản. Mạng lưới y tế thôn bản là những mạng lưới y tế gần dân nhất, họ là những người trực tiếp thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng.
Tiên Du là một huyện đồng bằng nằm phía nam của tỉnh Bắc Ninh, cách tỉnh lỵ 6 km.000 người, diện tích 10.672 ha đất tự nhiên và có 7.245 ha đất canh tác. Đay là một huyện đát chạt người đông, bình quân mỗi nhân khẩu chỉ có 579 m2đất canh tác và 860 m2đất lự nhiên. Dân cư sống quây quàn trong những “Khoảnh tre" thành các thôn xóm, thường có chung các phong tục tập quán sinh hoạt và một bộ phân có quan hệ huyết thống. Cơ cấu kinh tế chủ yếu là canh tác nông nghiệp, trồng lúa nước, dây là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình.
Một số xã có thêm nghề phụ như làm bún, làm mộc, xây dựng, buôn bán .[16] Tại huyện Tiên Du mạng lưới y tế thôn dã có hàng chục năm nay và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong huyện. Mạng lưới y tê' thôn phối hợp với cán bộ y tế xã và các ban ngành đoàn thể trong xã, thôn thực hiện các chương trình y tế quốc gia. Toàn huyện có 86 thôn với 116 nhân viên y tế thôn, nhưng trình dộ học vấn và chuyên môn không đồng đều. Có những nhân viên y t ố thôn l ại không ph ải là nhân viên y tế qua đào 2 tạo mà là cán bộ phụ nữ, giáo viên hoặc kiêm nhiệm với các nhiệm vụ khác của xã.
Chế độ đãi ngộ của y tế thôn tìrng xã có khác nhau, có xã thì thì trích từ ngân sách xã, có xã thì trả công theo công việc cụ thể của y tê' thôn hoặc trả theo thời vụ bằng tiền, bằng thóc. Nhân viên y tế thôn chưa hiểu biết một cách đầy đủ đến chức trách nhiệm vụ của y tế thôn đội là gì? Chịu sự quản lý của ai? Quy chế hoạt động của y tế thôn như thế nào? [16]. Để đưa ra được giải pháp có tính khả thi nhằm cúng cố lại tổ chức và nâng cao ch ất lượng hoạt động của mạng lưới y tế thôn thì cần phải có nghiên cứu đầy đủ và khoa học về thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới y tế thôn hiện nay. Tuy nhiên trong nh ững năm qua tại Trung tam y tế huyện chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề này.
Xuất phát từ những thực tế trên và mong muốn góp phần cung cấp thông tin giúp Trung tâm y tế huyện có giải pháp với mạng lưới y tế thôn trong thời gian t ới, chúng tôi ti ến hành đ ề tài : “Nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới y tế thôn tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh'' với các mục tiêu nghiên cứu như sau: MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới y tế thôn của huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh phục vụ cho công tác chăm sóc s ức kho ẻ ban đàu ở cộng đồng 2. Mục tiêu cụ thể: Mô tả thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới y tế thôn huyện Tiên Du t ỉnh Bắc Ninh. Xác định một số yếu tố ảnh hướng tời thực hiên nhiệm vụ của mạng lưới y tếthôn.
Qua đó đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm góp phần củng cố về mặt tổ chức và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưứiy tế thôn trong thời điểm hiện nay. 3 Phần ĩ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THỤC TRẠNG Tổ CHÚC VÀ HOẠT ĐỘNG MẠNG LƯỚI Y TÊ THÔN BẢN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. Tình hình chung về hệ thòng y tê cơ sở ở Việt Nam.
Hệ thống tổ chức Y tế ở nước ta hiện nay chia làm 4 tuy ến, tuy ến trung ương, tuy ến tỉnh/ thành phố, tuyến quận/ huyện và tuyến xã/ phường. Y tế cơ sở bao gồm tuyến huyện và tuyến xã, trong đó có y tế thôn bản ở miền núi (YTTB) hay y tế thôn (YTT) ở miền xuôi. Y tế cơ sở có nhiệm vụ quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Y tế cơ sở có một vị trí chiến lược rất quan trọng trong hệ thống y tế Việt Nam.
Y tế cơ sở là là đơn vị y tế gần dân nhất, phát hiện ra rihững vấn đề y tế sớm nhất và giải quyết khoảng 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ. Là nơi thể hiện sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân rõ nhất. Y tế cơ sở cũng là nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về y tế. Đây là bộ phân quan trọng nhất của ngành Y tế và còn tham gia việc ổn định chính trị - kinh tế - xã hội.
[18] Nước ta là một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số là làm nông nghiệp, sống ở các vùng nông thôn, vùng miền núi và hải đảo. Do đó đ ặc tr ưng c ủa y t ế n ước ta là y t ế nông thôn, dối tượng phục vụ là nông dân sống ở những vùng kinh t ế ch ưa phát tri ển, đ ời sống còn nhiều khó khăn. Nước ta có gân 15 triệu người nghèo, 90% người nghèo s ống ở nông thôn. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường đã có sự phân hoá mức sống ở nông thôn, những người có thu nhập cao thường có xu hướng tìm ki ếm nh ững d ịch v ụ khám ch ữa b ệnh ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương, còn những người nghèo có thu nhập thấp thì có xu hướng khám chữa bệnh ở tuyến cơ sở nhiều hơn.
Để tránh sự mất công bằng trong việc 4 cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thì phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong đó mạng lưới YTTB là nhiêm vụ cấp bách của ngành y tê' nước ta hiện nay. Do đó đối tượng phục vụ của tuyến y tế cơ sở là những người nghèo, vùng nghèo, mục đích là để góp phần thực hiên công bằng trong công tác chăm sóc và bảo vộ sức khoẻ cho nhân dân 12]. Trong 10 năm gần đây mạng lưới y tế cơ sở đứng trước những vấn đề khó khăn. Tác động của nền kinh tế thị trường, sự chuyển dổi chậm chạp của hệ thống hành chính nhà nước làm cho dội ngũ y tế cơ sở có giai đoạn bị thiếu hẳn nguồn lực cho hoạt động.
Vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, nông thôn bị xuống cấp nghiệm trọng, điều này ảnh hưởng không tốt cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Nhân dân nông thôn và miền núi còn đang dứng trước nhiều vâh đề sức khoẻ nghiêm trọng: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao, một số bệnh dịch mới phát sinh, môi trường sống bị suy thoái Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ một sô' nơi đã bị coi là hàng hoá, là phương tiện và mục đích để kinh doanh. Thực trạng ở vùng nông thôn và miền núi phần lớn đời sống người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, thu nháp bình quân đầu người rất thấp. Người dân không tìm được các dịch vụ chăm sóc sức khoe và không có khả năng chi tr ả cho các dịch vụ y tê' dược cung cấp.
Từ những vấn để này đặt ra yêu cáu cần phải có biện pháp giải quyết cấp bách và kịp thời. Được sự quan tâm chỉ dạo của Dâng và Nhà nước mạng lưới y tế cơ sở trong vài năm trở lại đây đã có những bước phát triển mạnh. Nghị quyết lổn thứ 4 Ban chấp hành trung ương Dáng khoá Vll “ về những ván dê cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sứ khỏe nhân dân" ngày 14/11/1993 đã chí rõ "Củng cô' y tế cơ sở là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của ngành y tê" [2] Mục tiêu lâu dài của mạng lưới y tê' cơ sở là: "Cùng với các ngành khác đảm bảo ngày một đầy đủ nhâỉ các yêu cầu vê phòng bệnh, chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ, nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ khoe’ mạnh, nâng cao chất lượng dời sống". Mạng lưới y tế cơ sở phải xuất phát từ nông thôn, đào tạo nhân lực y tê' từ 5 đó và quay về phục vụ nhân dân tại chồ, gắn bó với đời sống nông thôn, lớn mạnh và phát triển cùng với sự đi lên của nông thôn.
Thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới y tê thôn bản ở Việt Nam hiện nay. Vị trí của y tế thôn bản trong hệ thông tổ chức của ngành y tê Như sơ đồ trên thấy rằng YTTB (Hay trước đây còn gọi là y tế hợp tác xã, y tế thôn đội sản xuất) là tuyến cuối cùng của hệ thống y tế Việt Nam. YTT gần dân nh ất, là cánh tay n ối dài của trạm y tế (TYT) xã [29]. Lịch sử hình thành và phát biển của mạng lưới y tế thôn bản ở Việt Nam.
Trong lịch sử ngành y tế, mạng lưới YTTB đã được hình thành từ sau Cách mạng tháng tám với những tên gọi khác nhau như : Vệ sinh viên (ở nông thôn), Cứu thương (Quân đội). Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, YTTB gắn liền với hợp tác xã và đội sản xuất, nhân viên YTTB dược trả thù lao bằng công điểm. Hoạt động YTTB có nề n ếp, hoàn thành t ốt ch ức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xứng đáng là cánh tay nối dài của Y tế cơ sở. (Có các phong trào điển hình như: 3 s ạch, 4 di ệt, s ạch làng t ốt ru ộng, ăn chín uống sôi.