CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC 1. KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC 1. Khái niệm giáo dục Giáo dục theo nghĩa chung là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu.
Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống, liên tục của nhà sư phạm đến toàn bộ cuộc sống của học sinh để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thẻ lực. Giáo dục là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận của người được giáo dục. Giáo dục là sự tác động và sự chuyển hóa từ yêu cầu bên ngoài, những yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong bền vững của cá nhân.
Giáo dục được thực hiện trong nhà trường và cả ngoài xã hội với những hình thức đa dạng và phương pháp phong phú. Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến Luan van 7 thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội.
Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ. Vai trò của giáo dục a. Giáo dục đối với tích lũy vốn con người Trong từ điển kinh tế vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hóa đầu tư hay tài sản chính được sử dụng vào mục đích kinh doanh.
Theo nghĩa này vốn là vốn hữu hình hay vốn sản xuất. Còn vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động, nó thuộc về mỗi người và đem lại thu nhập cho con người sở hữu. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì vốn con người – là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội. Như vậy, vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được, được sử dụng trong quá trình sản xuất đem tới cho con người lợi ích.
Vốn con người cũng hao mòn và phải tốn chi phí để đầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp và quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa, vốn hữu hình tuy còn giữ vai trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn công nghiệp hóa. Thay vào đó vai trò của vốn vô hình – vốn con người ngày càng lớn hơn. Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình Luan van 8 phát triển kinh tế: - Các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động thô (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm.
- Kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Người ta đã đưa yếu tố vốn con người như một yếu tố đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nguồn vốn này giống như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn. Tuy nhiên, nếu đầu tư cho hình thành vốn con người chưa tốt, không hiệu quả thì nguồn vốn này không tác động tích cực mà lại làm tăng trưởng (Bùi Quang Bình,2008). Theo cách tiếp cận thu nhập GDP của nền kinh tế bằng tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế, khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêu này.
Borjas, George (2005) thông qua mô hình giáo dục chỉ ra ảnh hưởng tích cực của giáo dục tới thu nhập. Giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế Trong nhiều năm, sự mở rộng giáo dục đã thúc đẩy hoặc thậm chí quyết định tốc độ tăng trưởng (GNP) đã được coi là hiển nhiên. Sự mở rộng và phát triển của giáo dục ở mọi cấp đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế tổng thể thông qua việc: - Tạo ra một lực lượng lao động có năng suất cao hơn, có những hiểu biết và kỹ năng cao hơn. - Tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội kiếm được thu nhập cho các giáo viên, những người làm việc trong các trường học, những người xây dựng, những nhà in sách giáo khoa, những nhà sản xuất quần áo đồng phục học sinh.
- Tạo ra một tầng lớp những người lãnh đạo có học vấn để điền vào chỗ trống trong các công sở nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và trong những Luan van 9 nghề khác. - Tạo ra một dạng đào tạo và giáo dục mà nó có thể thúc đẩy sự biết đọc, viết, tính toán và những kỹ năng cơ bản, đồng thời khuyến khích thái độ "hiện đại" trong các tầng lớp dân cư khác nhau. Cho dù sự so sánh về chi phí – lợi ích xã hội của những phương án đầu tư khác nhau vào kinh tế có thể tạo ra sự tăng trưởng kinh tế còn lớn hơn nữa, nếu có thể tính toán được như vậy, thì cũng không nên làm giảm giá trị những đóng góp quan trọng, cả về mặt kinh tế lẫn phi kinh tế, mà giáo dục có thể tạo ra và đã tạo ra cho sự tăng trưởng kinh tế tổng thể, vì rằng một lực lượng lao động có học vấn và kỹ năng là điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế là điều không thể phủ nhận. Giáo dục với bất bình đẳng xã hội và nghèo đói - Trong nhiều năm những nghiên cứu về kinh tế học của giáo dục ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển đều tập trung vào mối liên quan giữa giáo dục, năng suất lao động và sự tăng trưởng của sản phẩm.
Vì mục tiêu của những năm 50, 60 là đạt đến mức tối đa tốc độ tăng tổng sản phẩm. Do vậy, tác động của giáo dục đến phân phối thu nhập và xóa bỏ nạn nghèo đói đã hầu như bị bỏ qua. - Có hai lý do kinh tế cơ bản để người ta nghi ngờ rằng nhiều hệ thống giáo dục ở các nước đang phát triển có bản chất không công bằng theo nghĩa những sinh viên nghèo ít có khả năng học hết bất kỳ một chương trình giáo dục nào so với những sinh viên tương đối giàu. Thứ nhất: Những chi phí cá nhân cho giáo dục tiểu học, đặc biệt là chi phí cơ hội của sức lao động của một đứa trẻ đối với những gia đình nghèo là cao hơn so với những học sinh giàu.
Thứ hai: Lợi ích mong đợi từ giáo dục tiểu học là thấp hơn đối với học sinh nghèo so với học sinh giàu. - Chi phí cao hơn và lợi ích mong đợi của việc đi học lại thấp hơn đối với người nghèo có nghĩa là tỷ suất lãi của gia đình trong việc đầu tư cho con Luan van 10 đi học đối với người nghèo là thấp hơn so với người giàu. Trước hết, chi phí cơ hội của sức lao động đối với những gia đình nghèo, có nghĩa là nếu trong vài năm đầu con cái họ đi học không phải mất tiền thì gia đình vẫn chịu những phí tổn. Trẻ con ở tuổi tiểu vẫn cần cho công việc đồng áng của gia đình, mà thường là vào đúng thời gian mà chúng cần phải ở trường.
Nếu như một đứa trẻ không thể làm việc vì nó đang ở trường, thì gia đình nó sẽ hoặc là chịu mất một lượng sản phẩm để sinh sống hoặc là phải thuê một lao động khác để thay thế cho đứa trẻ vắng mặt. Trong mọi trường hợp đó là một khoản phí tổn thực sự đối với một gia đình nghèo vì có một đứa trẻ khỏe mạnh đi học trong khi vẫn có những công việc phải làm ở ngoài đồng, một loại phí tổn không được thể hiện trong học phí, mà nó lại là ít đáng quan tâm hơn đối với những gia đình có thu nhập cao mà rất nhiều gia đình trong đó có thể sống ở thành phố. - Do những chi phí cơ hội cao hơn này, số học sinh đi học và chất lượng học tập cảu con em các gia đình nghèo có xu thế thấp hươn nhiều so với con em của những gia đình tương đối giàu hơn. Như vậy, mặc dù có hệ thống giáo dục tiểu học phổ cập và không mất tiền ở những nước đang phát triển, con em của các gia đình nghèo, đặc biệt là ở những vùng nông thôn, ít khi có thể học hết được mấy năm học đầu tiên.
Chất lượng học hành tương đối kém của chúng có thể không liên quan đến sự thiếu khả năng nhận thức. Ngược lại, điều đó chỉ có thể đơn thuần phản ánh những hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vấn đề tài chính này đã loại bỏ bớt những người tương đối nghèo trong vài năm đầu đi học của họ lại thường được kết hợp với tiền học phí khá là đáng kể ở cấp trung học. Ở các nước đang phát triển tiền học phí này trong một năm có thể tương đương với thu nhập bình quân đầu người trong cả nước đó và do vậy đã ngăn cản những gia đình có thu nhập thấp.