phần Mở đầu, phần Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, phần Phụ lục, phần Nội dung luận án đƣợc triển khai thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Một số vấn đề lí thuyết về tính liên văn bản Chƣơng 3. Đối thoại liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Chƣơng 4.
Các hình thức liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Phần Tổng quan này, chúng tôi trình bày hai vấn đề cơ bản. Một là, tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới và ở Việt Nam. Hai là, tình hình nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Ở khía cạnh thứ nhất, chúng tôi chú trọng nhiều vào tình hình nghiên cứu liên văn bản ở Việt Nam.
Riêng tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới sẽ đƣợc chúng tôi lồng vào phân tích chi tiết ở chƣơng sau. Ở khía cạnh thứ hai, luận án chú ý nhiều đến những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp và có lƣu ý đến những bài viết tiếp cận sáng tác của ông từ góc độ liên văn bản. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản 1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới Khởi nguồn của lí thuyết liên văn bản (LVB) là những nghiên cứu của nhóm Tel Quel và tạp chí cùng tên tại Pháp những năm 1960.
Từ đó đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu – phê bình có liên quan luận bàn về lí thuyết và vận dụng nó trong nghiên cứu văn học/văn hóa. Do khuôn khổ luận án và khả năng tƣ liệu nên chúng tôi chỉ quan tâm đến những nghiên cứu lí thuyết LVB trên mảng tƣ liệu tiếng Anh. Về phƣơng diện tổng thuật, phân tích lí thuyết, đáng chú ý là phần dẫn luận trong công trình Intertextuality: Theories and practices (Tính liên văn bản: Lí thuyết và thực tiễn –1990) của M.Worton và Judith Still, những tóm lƣợc và diễn giải ngắn gọn của R.Lewis trong New Vocabularies in Film Semiotics (Từ vựng mới trong kí hiệu học điện ảnh, 1992), những phân tích tổng thể, toàn diện trong công trình Intertextuality (Tính liên văn bản – 2000) của Graham Allen, những thảo luận trong Intertextuality: Debates and Contexts (Tính liên văn bản: Tranh luận và ngữ cảnh – 2003) của Mary Orr…Nhìn chung, tình hình nghiên cứu lí thuyết LVB đến thời điểm hiện nay đã khá thống nhất trên một số vấn đề cơ bản. Một là, về sự xuất hiện của khái niệm: tất cả các công trình nghiên cứu đều khẳng định Kristeva đã đặt ra thuật ngữ này vào khoảng năm 1966 và công bố năm 1967 trong bài báo Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết ( tiêu đề bài báo này chúng tôi dịch theo bản tiếng Anh, Word, Dialogue and Novel của Toril Moi trong sách The Kristeva Reader.
Riêng bản tiếng Pháp có tên đầy đủ là Bakhtine, le mot, le dialogue et le roman). Bài báo này ra đời trên cơ sở Kristeva nghiên cứu rất kỹ các 6 công trình của Bakhtin nhƣ Vấn đề nội dung, hình thức và chất liệu nghệ thuật ngôn từ, Những vấn đề thi pháp Dostoevsky, Sáng tác F.Rabelais và văn hóa dân gian trung cổ và Phục hưng,…Thuật ngữ của Kristeva gần gũi với các thuật ngữ của Bakhtin nhƣ tính đối thoại, tính lai ghép, diễn ngôn hai giọng…đồng thời cũng xuất phát từ những sự phê phán của bà đối với các quan điểm của nhà ngôn ngữ học ngƣời Thụy Sĩ, F.Saussure về bản chất mối quan hệ kí hiệu. Từ đây, đa số các công trình đều thống nhất ở chỗ, coi Saussure, Bakhtin, Kristeva là những nhà lập thuyết đầu tiên của tính LVB và tiến hành phân tích, thảo luận về những tƣ tƣởng của họ. Sau Saussure, Bakhtin, Kristeva, diện khảo sát đƣợc mở rộng đến các công trình của Barthes, Bloom, Eco, Derrida, Genette, Riffaterre, các nhà nữ quyền luận, tân lịch sử, hậu thực dân… Hai là, về nội hàm của khái niệm.
Các công trình trên đều tránh đi đến một định nghĩa duy nhất. Họ trình bày quan niệm của từng nhà tƣ tƣởng đối với vấn đề tính LVB nhƣ Bakhtin, Kristeva, Barthes, Genette, Bloom, Riffaterre, các nhà nữ quyền luận, hậu thực dân, hậu hiện đại…Nhìn chung, có hai cách tiếp cận thuật ngữ này. Cách tiếp cận thứ nhất coi LVB nhƣ một thủ pháp văn học. Cách tiếp cận này giới hạn tính LVB trong phạm vi các phƣơng thức tạo lập mối quan hệ giữa văn bản (VB) hiện hành và những VB khác trƣớc đó.
Sự kết nối LVB phải mang ý thức chủ động và phải có dấu hiệu kết nối xuất hiện trong VB đang đƣợc khảo sát. Các mối quan hệ LVB (intertextual relationships) nhƣ thế thƣờng đƣợc quy về các phƣơng thức nhƣ mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, đạo văn, biên tập, tu chỉnh, chuyển dịch, ảnh hƣởng, giễu nhại, pha trộn thể loại…Cách tiếp cận thứ hai có tính cách bản thể luận. Cách tiếp cận này có thể thấy ở Bakhtin và hầu hết các nhà giải cấu trúc thời danh nhƣ R. Trên cơ sở nền tảng: “không có gì ở ngoài VB”, các nhà lí luận đi đến chỗ cho rằng mọi VB đều là LVB.
Tất cả các VB đƣợc kiến tạo dựa vào những mã và những quy tắc văn hóa hiện hành. Các VB đƣợc xem nhƣ là “bức khảm các trích dẫn” và “không gian tiếng vọng”, nơi mà câu hỏi về nguồn gốc của những trích dẫn và tiếng vọng đó biến mất. Nói cách khác, tính LVB là thuộc tính của VB và là yêu cầu của mọi sự giao tiếp văn học. Hai quan điểm trên đây đƣa lí thuyết LVB đi theo hai ngã rẽ khác nhau: hƣớng cấu trúc – trần thuật với G.Riffaterre làm chủ soái và hƣớng giải cấu trúc, tập hợp nhiều nhà lập thuyết có uy tín ở cả Pháp và Mỹ.
Hƣớng cấu trúc – trần thuật xem LVB nhƣ là những thủ pháp kiến tạo mối quan hệ giữa VB hiện hành và VB khác ra đời trƣớc đó. Hƣớng giải cấu trúc xem mọi VB đều có những mối 7 quan hệ chằng chịt với các VB khác đƣợc gọi là các VB xã hội – đóng vai trò nhƣ những mã, những mô thức, những tiền VB chi phối sự sinh thành của VB. Hai hƣớng tiếp cận đều có những điểm tƣơng đồng và những chỗ mâu thuẫn, khác biệt. Điều này sẽ đƣợc chúng tôi diễn giải và phân tích kỹ ở chƣơng sau.
Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam Ngƣời giới thiệu và vận dụng lí thuyết LVB đầu tiên ở Việt Nam có lẽ là Hoàng Trinh. Với những bài viết bàn về ký hiệu học trong những thập niên 1970 – 1980, có thể xem ông là nhà ký hiệu học đầu tiên giới thiệu và vận dụng lí thuyết LVB. Trong công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1993), khi làm rõ khái niệm VB, ông đã viết nhƣ sau: “Một VB bao giờ cũng kế thừa những VB có trƣớc và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhập vào nhau. Đó là tính LVB của mọi VB”.
Ông giải thích thêm: “một tác phẩm văn học mang dấu ấn của sự kế thừa và của tính LVB rất rõ ở nhiều chỗ tác phẩm trƣớc đó đã đƣợc tác giả sau này đọc, mô phỏng tham khảo hoặc vận dụng”. Đồng thời Hoàng Trinh phân biệt sự khác biệt giữa thuật ngữ LVB với thuật ngữ tính đối thoại của Bakhtin. Theo ông, tính đối thoại là quan hệ vi mô, tồn tại trong một VB, còn tính LVB là vĩ mô, là quan hệ giữa VB này với VB khác. Tuy nhiên, ở chỗ khác ông lại đồng nhất hai thuật ngữ này khi viết: “Mặt khác, ngay trong một tác phẩm cũng có nhiều tiếng nói: tác giả, quần chúng, thời đại, nhân vật.
Đó là tính LVB hay tính đối thoại của văn học”. Ông còn cho rằng, “lí luận về thi pháp học của Bakhtin (Liên xô) đã chỉ rõ tính LVB trong tác phẩm của Ra-bơ-le (Rabelais) và Đô-xtôi-ép-xki, tạo ra tính “đa âm” (polyponique) và “tính đối thoại” (dialogique) hết sức chân thực và sống động trong các tiểu thuyết” [185, tr476]. Về điểm này, theo chúng tôi thì bản thân tính đa âm, tính đối thoại là những cách gọi khác của tính LVB (Chúng ta cần lƣu ý rằng Bakhtin không dùng thuật ngữ tính liên văn bản). Cũng trong công trình này, Hoàng Trinh giới thiệu phƣơng pháp phân tích thơ của M.Riffaterre, qua đó, gián tiếp giới thiệu quan niệm LVB của nhà cấu trúc – ký hiệu học này.
Tuy nhiên, vì thiếu tính lịch sử – hệ thống, lại xuất hiện tiên phong trong một hoàn cảnh văn hóa không thuận lợi nên lí thuyết LVB mà Hoàng Trinh giới thiệu chƣa gây đƣợc những hiệu ứng đáng kể. Công trình thứ hai có nhắc đến thuật ngữ LVB khá sớm nữa là bài giới thiệu Bakhtin của Trần Đình Sử (Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki - 1993). Trong bài viết này, ông khẳng định vai trò đặc biệt của tác phẩm, giới thiệu những tƣ tƣởng của Bakhtin về thi pháp học, tính đối thoại, về tiểu thuyết đa thanh/phức điệu 8 và có nhắc đến thuật ngữ LVB. Ông viết: “Ở đâu cuốn sách [Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki] cũng gây đƣợc hứng thú sâu sắc, thúc đẩy tìm tòi.Kristeva] vận dụng quan niệm đối thoại của Bakhtin đã xây dựng khái niệm LVB đƣợc công nhận rộng rãi ở phƣơng Tây”.
Tất nhiên, nhƣ chúng tôi sẽ trình bày ở chƣơng sau, sự kiện Kristeva vận dụng Bakhtin để sáng tạo ra thuật ngữ mới gắn bó chặt chẽ với không khí học thuật Pháp khi ấy, thời điểm tƣ tƣởng giải cấu trúc nảy sinh, đòi xem xét lại toàn bộ các quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc về văn học và ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh sự bất ổn của nghĩa và đòi tuyên cáo về cái chết của chủ thể. Do vậy tính đối thoại (của Bakhtin) và tính liên văn bản (ở Kristeva và các nhà giải cấu trúc khác) có nhiều điểm khác biệt [201], [223]. Lúc bấy giờ, Trần Đình Sử không quan tâm nhiều đến vấn đề này. Trung tâm chú ý của ông là lí thuyết thi pháp học.
Về sau (2008), trong giáo trình Lí luận văn học (Tập 2) Tác phẩm và thể loại văn học, ông có cập nhật ngắn gọn lí thuyết LVB khi diễn giải quan niệm của Kristeva và R.Barthes về VB và tác phẩm văn học. Theo chúng tôi, ngƣời chỉ rõ mối quan hệ giữa tính đối thoại và tính LVB, vận dụng nó một cách nhuần nhị là Đỗ Đức Hiểu. Trong bài viết Về Bakhtin [62], ông viết rằng “Julia Kristéva phát triển tính đối thoại của Bakhtin thành khái niệm “tính LVB” (Intertextualité)”. Trƣớc đó, ông viết: “Tiểu thuyết, bản thân nó là đối thoại hết sức đa dạng và phức hợp.