Nghiên Cứu Tính Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp

Tài liệu nghiên cứu Liên văn bản trong sáng tác nguyễn huy thiệp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ văn học

2013

175
25
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu

1.3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Đóng góp của luận án

1.5. Cấu trúc luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản

2.1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới

2.1.2. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam

2.2. Tình hình nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Thiệp

2.2.1. Những nghiên cứu gián tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp

2.2.2. Những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp

3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH LIÊN VĂN BẢN

3.1. Lí thuyết liên văn bản của chủ nghĩa cấu trúc: Genette và Riffaterre

3.1.1. Gérard Genette và tính xuyên văn bản

3.1.2. Michael Riffaterre và ảo tƣởng quy chiếu

3.2. Lí thuyết liên văn bản từ Bakhtin đến Chủ nghĩa giải cấu trúc

3.2.1. Mikhail Bakhtin và tính đối thoại

3.2.2. Julia Kristeva và tính liên văn bản

3.2.3. Roland Barthes và tính đa bội

4. ĐỐI THOẠI LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP

4.1. Đối thoại tƣ tƣởng và đối thoại văn hóa

4.2. Đối thoại với tƣ tƣởng Nho – Phật – Đạo

4.3. Đối thoại với những thành kiến văn chƣơng

4.4. Giải thiêng huyền thoại về nhân cách con ngƣời lị ch sƣ̉

4.5. Tâm thế đối thoại của Nguyễn Huy Thiệp

4.5.1. Từ tâm thức hiện sinh, soi sáng sƣ̣ hiện hƣ̃u của con ngƣời

4.5.2. Lập trƣờng dân chủ trong đối thoại

5. CÁC HÌNH THỨC LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP

5.1. Ảnh hƣởng và đọc sai, trích dẫn và giễu nhại

5.2. Ảnh hƣởng và đọc sai văn học quá khứ

5.3. Trích dẫn văn học truyền thống

5.4. Giễu nhại văn bản, diễn ngôn và thể loại

5.5. Pha trộn thể loại trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp

5.6. Sự xâm nhập của thơ trong văn xuôi

5.7. Sự xâm nhập của tự sự vào kịch

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám Phá Tính Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Thế kỷ XX chứng kiến sự bùng nổ của các lý thuyết văn học. Sự ra đời khái niệm văn bản (text) đã thay đổi quan niệm về tác phẩm. Đến nửa sau thế kỷ, tính liên văn bản (intertextuality) trở thành tâm điểm. Khái niệm này gắn liền với ngôn ngữ học hiện đại của F. de Saussure và tư tưởng của M.Bakhtin. Julia Kristeva chính thức đặt ra khái niệm này vào những năm 60. Lý thuyết liên văn bản có sức lan tỏa rộng, được sử dụng để khám phá các hiện tượng văn học/văn hóa quá khứ và đương đại. Bất kỳ văn bản nào cũng liên hệ với các văn bản khác qua ám chỉ, trích dẫn, chuyển thể, v.v. Tính liên văn bản là thuộc tính, nơi mỗi văn bản chứa đựng sự tham chiếu đối với văn bản khác.

1.1. Nguồn Gốc và Định Nghĩa Tính Liên Văn Bản

Nguồn gốc tính liên văn bản bắt nguồn từ ngôn ngữ học hiện đại của F. de Saussure và tư tưởng của M. Bakhtin. Julia Kristeva, nhà nghiên cứu văn học Pháp gốc Bulgaria, chính thức đặt ra khái niệm này. Quan niệm của Kristeva ra đời trong bối cảnh các quan niệm cấu trúc luận đang bị xét lại và hình thành chủ nghĩa hậu cấu trúc. Tính liên văn bản được hiểu là thuộc tính nơi mỗi văn bản chứa đựng sự tham chiếu. "Bất kỳ văn bản nào cũng đều có quan hệ với các văn bản khác ra đời trước đó", như luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn chỉ rõ.

1.2. Vai Trò của Liên Văn Bản Trong Diễn Giải Văn Học

Tính liên văn bản là thuật ngữ dùng để miêu tả thuộc tính quan hệ. Mỗi văn bản chứa đựng sự tham chiếu đối với các văn bản khác, qua đó chúng sinh sản ý nghĩa. Mối quan hệ này được tác giả tạo lập bằng ý thức hoặc vô thức. Độc giả tri nhận trong thực tiễn giao tiếp nghệ thuật và chúng tương tác với tri thức và trải nghiệm. Các giá trị văn hóa không ngừng được sản sinh và đón nhận, tạo hứng thú diễn giải. Việc nghiên cứu tính liên văn bản góp phần làm sâu sắc thêm quá trình diễn giải tác phẩm.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Liên Văn Bản Ở Việt Nam Thực Trạng

Trên thế giới, tính liên văn bản được vận dụng rộng rãi vào nghiên cứu văn học. Các công trình nghiên cứu phong phú, đa dạng và phức tạp. Ở Việt Nam, lý thuyết liên văn bản chưa được khảo sát và nghiên cứu một cách hệ thống. Gần đây, đã có một số bài dịch, giới thiệu nhưng chưa đủ để giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận và vận dụng lý thuyết. Luận án mong muốn cập nhật, giới thiệu hệ thống lý thuyết liên văn bản. Điều này nhằm đa dạng hóa cách thức tiếp cận văn học và góp phần đổi mới hệ hình nghiên cứu văn học ở Việt Nam theo hướng hiện đại.

2.1. Thiếu Hụt Nghiên Cứu Hệ Thống về Lý Thuyết Liên Văn Bản

Mặc dù lý thuyết liên văn bản đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, ở Việt Nam, việc nghiên cứu còn hạn chế. Số lượng các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn ít, chưa có sự hệ thống trong việc tiếp cận và vận dụng lý thuyết. Điều này gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc nắm bắt và áp dụng lý thuyết vào phân tích các tác phẩm văn học Việt Nam.

2.2. Nhu Cầu Cập Nhật và Giới Thiệu Lý Thuyết Liên Văn Bản

Trước thực trạng thiếu hụt nghiên cứu, việc cập nhật và giới thiệu lý thuyết liên văn bản là cần thiết. Điều này góp phần đa dạng hóa cách tiếp cận văn học và đổi mới hệ hình nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Các nghiên cứu cần tập trung vào việc hệ thống hóa các khái niệm, phương pháp luận và ứng dụng lý thuyết vào phân tích cụ thể các tác phẩm văn học.

2.3. Tiềm Năng Ứng Dụng Lý Thuyết vào Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam

Lý thuyết liên văn bản có tiềm năng ứng dụng lớn trong nghiên cứu văn học Việt Nam. Nó giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các tác phẩm, các trào lưu văn học và các yếu tố văn hóa, lịch sử. Việc ứng dụng lý thuyết giúp khám phá những ý nghĩa ẩn sâu trong tác phẩm, làm phong phú thêm quá trình diễn giải và đánh giá văn học.

III. Giải Mã Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp Cách Tiếp Cận

Trong văn xuôi, một số cây bút Việt Nam từ Đổi mới đến nay như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, đã có ý thức sử dụng liên văn bản. Họ tiếp tục tinh thần phê phán và nhân bản, phát hiện mặt trái của nhân sinh, xã hội. Họ tìm kiếm những hình thức nghệ thuật mới: đối thoại với văn bản xã hội (social text), vay mượn huyền thoại, quan tâm đến việc trích dẫn, viết lại, viết tiếp những văn bản cũ. Trong văn học thời kỳ Đổi mới, Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút tiêu biểu nhất. Ông chịu ảnh hưởng từ lịch sử, huyền thoại, tôn giáo, văn hóa bác học.

3.1. Ảnh Hưởng Đa Dạng và Sự Cách Tân Nghệ Thuật

Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau: lịch sử, huyền thoại, tôn giáo, văn hóa bác học và bình dân, nông thôn và đô thị, quá khứ và hiện tại. Nhiều nhà văn tiền nhân như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo và chất liệu văn chương trong sáng tác của ông. Nhà văn sống trong môi trường sinh thái văn học/văn hóa khát khao đổi thay, hòa nhập với thế giới hiện đại.

3.2. Tiếp Nhận và Đánh Giá Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều cách tân táo bạo và nhận được sự ủng hộ nhiệt thành của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín. Ông đã gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài. Tầm vóc của ông có thể nói là mang tính quốc tế. Tác phẩm của ông là đối tượng nghiên cứu từ các lập trường khác nhau như phân tâm học, văn hóa học, phê bình huyền thoại.

IV. Đối Thoại Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Luận án xác định hai nội dung cơ bản để giải quyết vấn đề liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp: đối thoại liên văn bản (intertextual dialogism) và những hình thức/kiểu liên văn bản (forms/types of intertextuality). Văn bản/liên văn bản là một chuỗi ký hiệu ngôn ngữ/phi ngôn ngữ, có nghĩa/ý nghĩa, được kiến tạo từ những văn bản khác, có mối quan hệ với những văn bản khác, gây ra tương tác đối thoại. Mỗi văn bản nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp là một không gian của sự tích hợp, thẩm thấu, chuyển hóa, đối thoại, tương tác, ảnh hưởng, trích dẫn, giễu nhại, pha trộn.

4.1. Văn Bản và Liên Văn Bản Mối Quan Hệ Tương Tác

Văn bản/liên văn bản (text/intertext) là một chuỗi kí hiệu ngôn ngữ/phi ngôn ngữ (một phát ngôn, một lời nói hoặc viết, một bức tranh, một bài hát, một bộ phim, một truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, bài thơ),…có nghĩa/ý nghĩa. Nó được kiến tạo, sản sinh từ những văn bản khác, có mối quan hệ với những văn bản khác, gây ra tương tác đối thoại với mạng lưới tri thức/trải nghiệm văn bản vốn có ở người đọc.

4.2. Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp Không Gian Tích Hợp Liên Văn Bản

Mỗi văn bản nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp là một không gian của sự tích hợp, thẩm thấu, chuyển hóa, đối thoại, tương tác, ảnh hưởng, trích dẫn, giễu nhại, pha trộn và kết nối đến những văn bản khác, vốn có trước đó, đồng văn hóa hoặc dị văn hóa. Do đó, việc phân tích tính liên văn bản trong sáng tác của ông cần xem xét các yếu tố đối thoại và hình thức liên văn bản.

V. Phương Pháp Nghiên Cứu Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp lịch sử – loại hình và phương pháp cấu trúc – hệ thống được sử dụng chủ yếu. Phương pháp lịch sử – loại hình: khảo sát lịch sử hình thành và vận động của lý thuyết liên văn bản, đặc trưng và nội hàm của khái niệm. Phương pháp cấu trúc – hệ thống: dùng để nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng của từng nhà lập thuyết về tính liên văn bản. Xem toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp như một hệ thống, mỗi văn bản/toàn bộ sáng tác như một liên văn bản, đặt nó trong mạng lưới quan hệ với các văn bản khác.

5.1. Phương Pháp Lịch Sử Loại Hình Khảo Sát Lý Thuyết Liên Văn Bản

Phương pháp lịch sử – loại hình được sử dụng để khảo sát lịch sử hình thành và vận động của lý thuyết liên văn bản, đặc trưng và nội hàm của khái niệm qua từng nhà lập thuyết – thực hành và từng thời điểm. Những công trình của những nhà lý thuyết liên văn bản như Bakhtin, Kristeva, Barthes, Bloom, Genette, Riffaterre sẽ được phân tích, đánh giá chủ yếu theo phương pháp này.

5.2. Phương Pháp Cấu Trúc Hệ Thống Nghiên Cứu Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Phương pháp cấu trúc – hệ thống được dùng để nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng của từng nhà lập thuyết về tính liên văn bản. Sau đó, nó được dùng thường xuyên để nghiên cứu thực tiễn liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp: xem toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp như một hệ thống, xem mỗi văn bản/toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp như một liên văn bản, đặt nó trong mạng lưới quan hệ với các văn bản khác (văn bản xã hội và diễn ngôn tập thể).

VI. Đóng Góp Luận Án Phân Tích Liên Văn Bản Trong Văn Nguyễn Huy Thiệp

Về lý thuyết: cố gắng trình bày tương đối ngắn gọn hệ thống lý thuyết liên văn bản, trên phương diện lịch sử và cấu trúc, qua tư tưởng của một số đại biểu như Bakhtin, Kristeva, Barthes, Bloom, Riffaterre, Genette. Về thực tiễn: thể nghiệm phân tích đối thoại liên văn bản và các hình thức liên văn bản nổi bật trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp nhằm làm sáng rõ lý thuyết, đồng thời qua đó đánh giá đặc sắc tư tưởng – nghệ thuật của nhà văn trong tư cách một hiện tượng văn học có nhiều đóng góp cho văn học Đổi mới ở Việt Nam.

6.1. Tổng Quan Tình Hình Nghiên Cứu

Phần Tổng quan trình bày tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới và ở Việt Nam. Chú trọng nhiều vào tình hình nghiên cứu liên văn bản ở Việt Nam. Riêng tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới sẽ được lồng vào phân tích chi tiết ở chương sau.

6.2. Nghiên Cứu Sáng Tác Nguyễn Huy Thiệp

Luận án chú ý nhiều đến những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp và có lưu ý đến những bài viết tiếp cận sáng tác của ông từ góc độ liên văn bản.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, phần Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, phần Phụ lục, phần Nội dung luận án đƣợc triển khai thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Một số vấn đề lí thuyết về tính liên văn bản Chƣơng 3. Đối thoại liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Chƣơng 4.

Các hình thức liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Phần Tổng quan này, chúng tôi trình bày hai vấn đề cơ bản. Một là, tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới và ở Việt Nam. Hai là, tình hình nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Ở khía cạnh thứ nhất, chúng tôi chú trọng nhiều vào tình hình nghiên cứu liên văn bản ở Việt Nam.

Riêng tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới sẽ đƣợc chúng tôi lồng vào phân tích chi tiết ở chƣơng sau. Ở khía cạnh thứ hai, luận án chú ý nhiều đến những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp và có lƣu ý đến những bài viết tiếp cận sáng tác của ông từ góc độ liên văn bản. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản 1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới Khởi nguồn của lí thuyết liên văn bản (LVB) là những nghiên cứu của nhóm Tel Quel và tạp chí cùng tên tại Pháp những năm 1960.

Từ đó đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu – phê bình có liên quan luận bàn về lí thuyết và vận dụng nó trong nghiên cứu văn học/văn hóa. Do khuôn khổ luận án và khả năng tƣ liệu nên chúng tôi chỉ quan tâm đến những nghiên cứu lí thuyết LVB trên mảng tƣ liệu tiếng Anh. Về phƣơng diện tổng thuật, phân tích lí thuyết, đáng chú ý là phần dẫn luận trong công trình Intertextuality: Theories and practices (Tính liên văn bản: Lí thuyết và thực tiễn –1990) của M.Worton và Judith Still, những tóm lƣợc và diễn giải ngắn gọn của R.Lewis trong New Vocabularies in Film Semiotics (Từ vựng mới trong kí hiệu học điện ảnh, 1992), những phân tích tổng thể, toàn diện trong công trình Intertextuality (Tính liên văn bản – 2000) của Graham Allen, những thảo luận trong Intertextuality: Debates and Contexts (Tính liên văn bản: Tranh luận và ngữ cảnh – 2003) của Mary Orr…Nhìn chung, tình hình nghiên cứu lí thuyết LVB đến thời điểm hiện nay đã khá thống nhất trên một số vấn đề cơ bản. Một là, về sự xuất hiện của khái niệm: tất cả các công trình nghiên cứu đều khẳng định Kristeva đã đặt ra thuật ngữ này vào khoảng năm 1966 và công bố năm 1967 trong bài báo Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết ( tiêu đề bài báo này chúng tôi dịch theo bản tiếng Anh, Word, Dialogue and Novel của Toril Moi trong sách The Kristeva Reader.

Riêng bản tiếng Pháp có tên đầy đủ là Bakhtine, le mot, le dialogue et le roman). Bài báo này ra đời trên cơ sở Kristeva nghiên cứu rất kỹ các 6 công trình của Bakhtin nhƣ Vấn đề nội dung, hình thức và chất liệu nghệ thuật ngôn từ, Những vấn đề thi pháp Dostoevsky, Sáng tác F.Rabelais và văn hóa dân gian trung cổ và Phục hưng,…Thuật ngữ của Kristeva gần gũi với các thuật ngữ của Bakhtin nhƣ tính đối thoại, tính lai ghép, diễn ngôn hai giọng…đồng thời cũng xuất phát từ những sự phê phán của bà đối với các quan điểm của nhà ngôn ngữ học ngƣời Thụy Sĩ, F.Saussure về bản chất mối quan hệ kí hiệu. Từ đây, đa số các công trình đều thống nhất ở chỗ, coi Saussure, Bakhtin, Kristeva là những nhà lập thuyết đầu tiên của tính LVB và tiến hành phân tích, thảo luận về những tƣ tƣởng của họ. Sau Saussure, Bakhtin, Kristeva, diện khảo sát đƣợc mở rộng đến các công trình của Barthes, Bloom, Eco, Derrida, Genette, Riffaterre, các nhà nữ quyền luận, tân lịch sử, hậu thực dân… Hai là, về nội hàm của khái niệm.

Các công trình trên đều tránh đi đến một định nghĩa duy nhất. Họ trình bày quan niệm của từng nhà tƣ tƣởng đối với vấn đề tính LVB nhƣ Bakhtin, Kristeva, Barthes, Genette, Bloom, Riffaterre, các nhà nữ quyền luận, hậu thực dân, hậu hiện đại…Nhìn chung, có hai cách tiếp cận thuật ngữ này. Cách tiếp cận thứ nhất coi LVB nhƣ một thủ pháp văn học. Cách tiếp cận này giới hạn tính LVB trong phạm vi các phƣơng thức tạo lập mối quan hệ giữa văn bản (VB) hiện hành và những VB khác trƣớc đó.

Sự kết nối LVB phải mang ý thức chủ động và phải có dấu hiệu kết nối xuất hiện trong VB đang đƣợc khảo sát. Các mối quan hệ LVB (intertextual relationships) nhƣ thế thƣờng đƣợc quy về các phƣơng thức nhƣ mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, đạo văn, biên tập, tu chỉnh, chuyển dịch, ảnh hƣởng, giễu nhại, pha trộn thể loại…Cách tiếp cận thứ hai có tính cách bản thể luận. Cách tiếp cận này có thể thấy ở Bakhtin và hầu hết các nhà giải cấu trúc thời danh nhƣ R. Trên cơ sở nền tảng: “không có gì ở ngoài VB”, các nhà lí luận đi đến chỗ cho rằng mọi VB đều là LVB.

Tất cả các VB đƣợc kiến tạo dựa vào những mã và những quy tắc văn hóa hiện hành. Các VB đƣợc xem nhƣ là “bức khảm các trích dẫn” và “không gian tiếng vọng”, nơi mà câu hỏi về nguồn gốc của những trích dẫn và tiếng vọng đó biến mất. Nói cách khác, tính LVB là thuộc tính của VB và là yêu cầu của mọi sự giao tiếp văn học. Hai quan điểm trên đây đƣa lí thuyết LVB đi theo hai ngã rẽ khác nhau: hƣớng cấu trúc – trần thuật với G.Riffaterre làm chủ soái và hƣớng giải cấu trúc, tập hợp nhiều nhà lập thuyết có uy tín ở cả Pháp và Mỹ.

Hƣớng cấu trúc – trần thuật xem LVB nhƣ là những thủ pháp kiến tạo mối quan hệ giữa VB hiện hành và VB khác ra đời trƣớc đó. Hƣớng giải cấu trúc xem mọi VB đều có những mối 7 quan hệ chằng chịt với các VB khác đƣợc gọi là các VB xã hội – đóng vai trò nhƣ những mã, những mô thức, những tiền VB chi phối sự sinh thành của VB. Hai hƣớng tiếp cận đều có những điểm tƣơng đồng và những chỗ mâu thuẫn, khác biệt. Điều này sẽ đƣợc chúng tôi diễn giải và phân tích kỹ ở chƣơng sau.

Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam Ngƣời giới thiệu và vận dụng lí thuyết LVB đầu tiên ở Việt Nam có lẽ là Hoàng Trinh. Với những bài viết bàn về ký hiệu học trong những thập niên 1970 – 1980, có thể xem ông là nhà ký hiệu học đầu tiên giới thiệu và vận dụng lí thuyết LVB. Trong công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1993), khi làm rõ khái niệm VB, ông đã viết nhƣ sau: “Một VB bao giờ cũng kế thừa những VB có trƣớc và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhập vào nhau. Đó là tính LVB của mọi VB”.

Ông giải thích thêm: “một tác phẩm văn học mang dấu ấn của sự kế thừa và của tính LVB rất rõ ở nhiều chỗ tác phẩm trƣớc đó đã đƣợc tác giả sau này đọc, mô phỏng tham khảo hoặc vận dụng”. Đồng thời Hoàng Trinh phân biệt sự khác biệt giữa thuật ngữ LVB với thuật ngữ tính đối thoại của Bakhtin. Theo ông, tính đối thoại là quan hệ vi mô, tồn tại trong một VB, còn tính LVB là vĩ mô, là quan hệ giữa VB này với VB khác. Tuy nhiên, ở chỗ khác ông lại đồng nhất hai thuật ngữ này khi viết: “Mặt khác, ngay trong một tác phẩm cũng có nhiều tiếng nói: tác giả, quần chúng, thời đại, nhân vật.

Đó là tính LVB hay tính đối thoại của văn học”. Ông còn cho rằng, “lí luận về thi pháp học của Bakhtin (Liên xô) đã chỉ rõ tính LVB trong tác phẩm của Ra-bơ-le (Rabelais) và Đô-xtôi-ép-xki, tạo ra tính “đa âm” (polyponique) và “tính đối thoại” (dialogique) hết sức chân thực và sống động trong các tiểu thuyết” [185, tr476]. Về điểm này, theo chúng tôi thì bản thân tính đa âm, tính đối thoại là những cách gọi khác của tính LVB (Chúng ta cần lƣu ý rằng Bakhtin không dùng thuật ngữ tính liên văn bản). Cũng trong công trình này, Hoàng Trinh giới thiệu phƣơng pháp phân tích thơ của M.Riffaterre, qua đó, gián tiếp giới thiệu quan niệm LVB của nhà cấu trúc – ký hiệu học này.

Tuy nhiên, vì thiếu tính lịch sử – hệ thống, lại xuất hiện tiên phong trong một hoàn cảnh văn hóa không thuận lợi nên lí thuyết LVB mà Hoàng Trinh giới thiệu chƣa gây đƣợc những hiệu ứng đáng kể. Công trình thứ hai có nhắc đến thuật ngữ LVB khá sớm nữa là bài giới thiệu Bakhtin của Trần Đình Sử (Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki - 1993). Trong bài viết này, ông khẳng định vai trò đặc biệt của tác phẩm, giới thiệu những tƣ tƣởng của Bakhtin về thi pháp học, tính đối thoại, về tiểu thuyết đa thanh/phức điệu 8 và có nhắc đến thuật ngữ LVB. Ông viết: “Ở đâu cuốn sách [Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki] cũng gây đƣợc hứng thú sâu sắc, thúc đẩy tìm tòi.Kristeva] vận dụng quan niệm đối thoại của Bakhtin đã xây dựng khái niệm LVB đƣợc công nhận rộng rãi ở phƣơng Tây”.

Tất nhiên, nhƣ chúng tôi sẽ trình bày ở chƣơng sau, sự kiện Kristeva vận dụng Bakhtin để sáng tạo ra thuật ngữ mới gắn bó chặt chẽ với không khí học thuật Pháp khi ấy, thời điểm tƣ tƣởng giải cấu trúc nảy sinh, đòi xem xét lại toàn bộ các quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc về văn học và ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh sự bất ổn của nghĩa và đòi tuyên cáo về cái chết của chủ thể. Do vậy tính đối thoại (của Bakhtin) và tính liên văn bản (ở Kristeva và các nhà giải cấu trúc khác) có nhiều điểm khác biệt [201], [223]. Lúc bấy giờ, Trần Đình Sử không quan tâm nhiều đến vấn đề này. Trung tâm chú ý của ông là lí thuyết thi pháp học.

Về sau (2008), trong giáo trình Lí luận văn học (Tập 2) Tác phẩm và thể loại văn học, ông có cập nhật ngắn gọn lí thuyết LVB khi diễn giải quan niệm của Kristeva và R.Barthes về VB và tác phẩm văn học. Theo chúng tôi, ngƣời chỉ rõ mối quan hệ giữa tính đối thoại và tính LVB, vận dụng nó một cách nhuần nhị là Đỗ Đức Hiểu. Trong bài viết Về Bakhtin [62], ông viết rằng “Julia Kristéva phát triển tính đối thoại của Bakhtin thành khái niệm “tính LVB” (Intertextualité)”. Trƣớc đó, ông viết: “Tiểu thuyết, bản thân nó là đối thoại hết sức đa dạng và phức hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tính Liên Văn Bản Trong Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp" khám phá sâu sắc mối liên hệ giữa các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, từ đó làm nổi bật tính liên văn bản trong sáng tác của ông. Nghiên cứu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách mà các tác phẩm tương tác với nhau mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn hóa và xã hội Việt Nam qua lăng kính văn học. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc nắm bắt các khía cạnh văn bản, từ đó nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi nghiên cứu ngôn từ trong thơ ca thời kỳ kháng chiến. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký tô hoài sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách thức sử dụng ngôn ngữ trong hồi ký, một thể loại văn học quan trọng. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngữ văn phương ngữ nam bộ trong tiểu thuyết bà chúa hòn của nhà văn sơn nam sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về phương ngữ trong văn học, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về văn hóa ngôn ngữ Việt Nam.