Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) là một trong những can thiệp y tế công cộng hiệu quả hàng đầu, giúp thế giới ngăn chặn từ 2 đến 3 triệu ca tử vong mỗi năm. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ bao phủ toàn cầu của mũi vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván liều thứ ba (DTP3) đã tăng từ 72% năm 2000 lên 86% vào năm 2018, góp phần giảm 80% tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu. Tại Việt Nam, chương trình TCMR được khởi xướng từ năm 1981 với sự đồng hành của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và WHO, nhanh chóng đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% từ năm 1993 và duy trì tỷ lệ tiêm đủ 6 loại vắc xin cơ bản cho trẻ dưới 1 tuổi đạt mức 98%.

Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng chung trên toàn quốc đạt mức cao theo Quyết định của Chương trình Mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2016 – 2020 với chỉ tiêu 95%, việc đảm bảo trẻ được tiêm chủng đúng lịch và đầy đủ tại các vùng nông thôn vẫn gặp nhiều rào cản. Luận văn Thạc sĩ Y học chuyên ngành Y học dự phòng của tác giả Từ Lan Vy (Mã số: 8720163), dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Võ Huỳnh Trang tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, tập trung giải quyết bài toán thực tiễn này. Đề tài được triển khai với mục tiêu xác định tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc xin thiết yếu cùng kiến thức, thực hành của 330 bà mẹ có con từ 12 đến 24 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong giai đoạn từ tháng 5/2020 đến tháng 4/2021. Đồng thời, nghiên cứu phân tích các yếu tố nhân khẩu học và nhận thức liên quan, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản lý dịch tễ tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết miễn dịch học cộng đồng và dịch tễ học bệnh truyền nhiễm. Đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với vắc xin trải qua hai giai đoạn then chốt: đáp ứng tiên phát (khi kháng nguyên kích thích tế bào lympho T và B sản sinh kháng thể bảo vệ tối thiểu sau 4 ngày) và đáp ứng thứ phát (kích hoạt tế bào nhớ miễn dịch để tạo kháng thể nhanh và mạnh hơn khi tái chủng). Nếu khoảng cách giữa các mũi tiêm quá ngắn hoặc tiêm quá muộn, hiệu lực bảo vệ của kháng thể sẽ suy giảm nghiêm trọng.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model), phân tích hành vi tuân thủ tiêm chủng của bà mẹ thông qua nhận thức về mối nguy cơ bệnh tật, lợi ích của vắc xin và các rào cản tâm lý. Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm chuyên môn cốt lõi:

  • Tiêm chủng mở rộng: Hoạt động tiêm chủng miễn phí bắt buộc do Nhà nước tổ chức theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
  • Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi: Trẻ nhận đủ 8 loại vắc xin với 15 liều trước 1 tuổi, gồm: 1 mũi Lao (BCG), 1 mũi Viêm gan B sơ sinh trong 24 giờ đầu, 3 mũi phối hợp DPT-VGB-Hib, 3 liều Bại liệt (OPV) và 1 mũi Sởi.
  • Tiêm chủng đúng lịch: Các liều vắc xin được đưa vào cơ thể đúng độ tuổi quy định và đảm bảo khoảng cách tối thiểu giữa các mũi tiêm.
  • Miễn dịch bầy đàn (Herd Immunity): Tỷ lệ tiêm chủng đạt ngưỡng bảo vệ cộng đồng (thường trên 90 - 95%) nhằm ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích (Cross-sectional analytical study). Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số tuyệt đối cho phép d = 0,06 và tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tham khảo p = 0,75 từ các nghiên cứu trước đó. Sau khi nhân hệ số thiết kế cụm 1,5 và dự phòng 5% hao hụt mẫu, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 317 bà mẹ. Quá trình thực địa đã thu thập thành công 330 cặp bà mẹ và trẻ em từ 12 đến 24 tháng tuổi.

Phương pháp chọn mẫu cụm hai giai đoạn được áp dụng nghiêm ngặt:

  • Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 30 cụm từ danh sách 142 ấp thuộc 18 xã, thị trấn của huyện Chợ Mới.
  • Giai đoạn 2: Tại mỗi cụm, lập danh sách các bà mẹ đủ điều kiện và bốc thăm ngẫu nhiên 11 đối tượng tham gia phỏng vấn trực tiếp.

Thu thập dữ liệu thông qua bộ câu hỏi cấu trúc kết hợp đối chiếu chéo với sổ theo dõi tiêm chủng cá nhân của trẻ và sổ quản lý TCMR tại trạm y tế xã. Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 cùng Microsoft Excel 2013. Các phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (kiểm định Chi-square, Fisher's exact test, tính tỷ số số chênh OR với khoảng tin cậy 95%) được lựa chọn nhằm xác định chính xác mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố nhân khẩu, nhận thức với hành vi tiêm chủng. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y Dược Cần Thơ xét duyệt và thông qua.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 330 bà mẹ và trẻ em tại huyện Chợ Mới ghi nhận các phát hiện trọng tâm sau:

  • Tỷ lệ tiêm chủng chung: Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 88,8% (293 trẻ), trong khi tỷ lệ không đầy đủ chiếm 11,2% (37 trẻ). Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch chỉ đạt 43,9% (145 trẻ), còn lại 56,1% (185 trẻ) bị tiêm trễ lịch ở một hoặc nhiều mũi vắc xin.
  • Tỷ lệ bao phủ theo từng loại vắc xin: Tỷ lệ tiêm vắc xin BCG phòng lao đạt 99,7% (trong đó đúng lịch đạt 84,8%), vắc xin Viêm gan B sơ sinh tiêm trong vòng 24 giờ đầu đạt 85,5%. Đối với vắc xin phối hợp DPT-VGB-Hib, tỷ lệ tiêm đúng lịch giảm dần qua các mũi: mũi 1 đạt 76,4%, mũi 2 đạt 70,3% và mũi 3 chỉ đạt 45,5%. Tương tự, tỷ lệ uống OPV đúng lịch mũi 1 là 70,3%, mũi 2 là 61,8% và mũi 3 là 48,2%. Đáng chú ý, tỷ lệ tiêm vắc xin sởi mũi 1 đúng vào tháng thứ 9 chỉ đạt 1,5%, và phải đến tháng thứ 14 thì tỷ lệ tích lũy tiêm sởi mới đạt 91,5%.
  • Kiến thức và thực hành của bà mẹ: Có 63,6% bà mẹ đạt mức hiểu biết chung đúng về TCMR và 82,1% có thực hành chung đúng. Mặc dù 100% bà mẹ lưu giữ sổ tiêm chủng của con, tỷ lệ nhận biết đúng các phản ứng bất lợi sau tiêm chỉ đạt 17,3% và tỷ lệ biết cách xử trí phản ứng đúng chỉ đạt 29,1%.
  • Lý do trì hoãn tiêm chủng: Lý do hàng đầu khiến trẻ không tiêm đúng lịch hoặc bỏ mũi là do trẻ bị ốm, sốt (chiếm 68,1%), tiếp theo là bà mẹ quên lịch tiêm (23,2%), trạm y tế thiếu vắc xin (15,7%), bận việc gia đình (10,3%) và tâm lý sợ tai biến sau tiêm (3,8%).

Thảo luận kết quả

Khi phân tích ma trận dữ liệu thông qua các bảng chéo và biểu đồ tương quan tỷ lệ tiêm chủng tích lũy theo tháng tuổi, nghiên cứu làm sáng tỏ nhiều khía cạnh dịch tễ học quan trọng. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ tiêm đủ (88,8%) và tỷ lệ tiêm đúng lịch (43,9%) phản ánh tình trạng trì hoãn tiêm chủng kéo dài. Trẻ thường được tiêm vét đủ các mũi cơ bản khi đã lớn (tỷ lệ tiêm đủ 3 mũi DPT và OPV chỉ đạt trên 90% khi trẻ bước sang 11 tháng tuổi). Khoảng trống miễn dịch này khiến trẻ đối mặt với nguy cơ cao mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong giai đoạn cửa sổ từ 2 đến 6 tháng tuổi.

Phân tích hồi quy đơn biến xác định các mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05):

  • Trình độ học vấn của mẹ: Bà mẹ có học vấn dưới trung học phổ thông (THPT) có nguy cơ không cho con tiêm chủng đầy đủ cao gấp 2,38 lần so với nhóm có trình độ từ THPT trở lên (OR = 2,38; KTC 95%: 1,05 – 5,39; p = 0,033).
  • Nhận thức về chương trình và mục đích tiêm chủng: Mẹ hiểu biết chưa đúng về chương trình TCMR làm tăng nguy cơ con không tiêm đủ lên 3,40 lần (OR = 3,40; KTC 95%: 1,39 – 8,32; p = 0,011). Hiểu biết chưa đúng về mục đích phòng bệnh của vắc xin làm tăng nguy cơ này lên 2,14 lần (OR = 2,14; KTC 95%: 1,06 – 4,31; p = 0,031).
  • Hiểu biết về thời gian theo dõi và lịch tiêm tại trạm: Mẹ không nắm rõ quy định theo dõi sau tiêm làm tăng nguy cơ không tiêm đủ lên 5,57 lần (OR = 5,57; KTC 95%: 2,25 – 13,75; p = 0,001). Mẹ không nắm rõ ngày tiêm cố định của trạm y tế có nguy cơ không tiêm đủ cao gấp 2,27 lần (OR = 2,27; KTC 95%: 1,12 – 4,59; p = 0,020).

So sánh với các nghiên cứu tại địa phương khác, tỷ lệ tiêm đủ 88,8% tại Chợ Mới cao hơn mức 77,9% tại Thới Bình - Cà Mau và 65% tại Móng Cái - Quảng Ninh, nhưng tỷ lệ tiêm đúng lịch (43,9%) vẫn thấp hơn mức 52,0% ghi nhận tại Hà Giang. Nguồn thông tin được 95,2% bà mẹ tin cậy nhất là cán bộ và cộng tác viên y tế cơ sở. Điều này chứng minh rằng việc nâng cao năng lực truyền thông trực tiếp của mạng lưới y tế thôn ấp là chìa khóa then chốt để cải thiện tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, đề tài đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:

  • Thiết lập hệ thống nhắc lịch tiêm chủng tự động đa kênh: Trạm Y tế xã phối hợp cùng Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới triển khai gửi tin nhắn SMS hoặc thông báo qua nền tảng y tế số đến số điện thoại của người chăm sóc trước ngày tiêm 3 ngày đối với các mũi DPT-VGB-Hib, OPV và Sởi. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tiêm đúng lịch của toàn huyện từ 43,9% lên tối thiểu 75% trong vòng 12 tháng.
  • Chuẩn hóa quy trình tư vấn an toàn tiêm chủng tại tuyến xã: Cán bộ trạm y tế trực tiếp hướng dẫn quy trình theo dõi 30 phút tại trạm và tối thiểu 24 giờ tại nhà cho 100% phụ huynh sau mỗi buổi tiêm, tập trung vào kỹ năng phân biệt phản ứng thông thường (sốt nhẹ, sưng đau tại chỗ) với các dấu hiệu nguy hiểm cần chuyển viện cấp cứu. Hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hiểu biết đúng về xử trí phản ứng sau tiêm từ 29,1% lên trên 80% trong giai đoạn 2021 – 2023.
  • Tập trung truyền thông y tế trực tiếp cho nhóm phụ nữ học vấn thấp: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) tỉnh An Giang phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương tổ chức các buổi truyền thông nhóm nhỏ tại 142 ấp, ưu tiên nhóm bà mẹ làm nông, nội trợ và có trình độ học vấn dưới THPT, giúp giảm tỷ lệ bỏ mũi DPT3 và Sởi xuống dưới 5% trong vòng 6 tháng.
  • Chủ động nguồn cung ứng vắc xin và tổ chức tiêm bù linh hoạt: Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới xây dựng kế hoạch dự trù vắc xin ComBe Five và Sởi định kỳ, không để xảy ra tình trạng đứt gãy nguồn cung. Đồng thời, tổ chức các buổi tiêm vét cố định vào giữa tháng cho những trẻ phải tạm hoãn tiêm do ốm sốt, đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ duy trì ổn định trên 95%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và CDC tuyến tỉnh, huyện: Tiếp cận bộ dữ liệu dịch tễ học chuẩn xác về tỷ lệ bao phủ từng loại vắc xin tại khu vực nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực và điều phối chiến dịch tiêm chủng hiệu quả.
  • Nhân viên y tế tại các Trạm Y tế xã và cộng tác viên y tế thôn ấp: Tham khảo các bảng phân tích nguyên nhân trì hoãn tiêm chủng để cải tiến quy trình đón tiếp, sàng lọc, hẹn lịch và tư vấn sau tiêm, giúp tăng cường tỷ lệ giữ chân phụ huynh đưa trẻ đi tiêm đúng lịch.
  • Học viên sau đại học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Y học dự phòng, Y tế công cộng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp chọn mẫu cụm hai giai đoạn, công cụ khảo sát thực địa và kỹ thuật phân tích các yếu tố nguy cơ bằng tỷ số số chênh (OR).
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan bảo vệ chăm sóc trẻ em: Khai thác các chỉ số thực chứng về khoảng trống nhận thức của bà mẹ để thiết kế các chương trình tài trợ truyền thông y tế cộng đồng, nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em vùng khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới đạt mức bao nhiêu?

Nghiên cứu trên 330 bà mẹ ghi nhận tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt 88,8% (293 trẻ). Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ được tiêm đúng lịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế chỉ đạt 43,9% (145 trẻ), cho thấy hơn một nửa số trẻ em tại địa bàn nghiên cứu bị trễ hạn ở các mũi tiêm cơ bản.

Những lý do chính khiến trẻ không được tiêm chủng đầy đủ hoặc trễ lịch là gì?

Lý do phổ biến nhất là trẻ bị ốm, sốt hoặc rối loạn tiêu hóa vào ngày tiêm (chiếm 68,1%). Bên cạnh đó, các yếu tố chủ quan từ gia đình như mẹ quên lịch tiêm (23,2%), trạm y tế thiếu vắc xin cục bộ (15,7%) và bận công việc không đưa trẻ đi tiêm (10,3%) cũng là những nguyên nhân chính gây gián đoạn lịch tiêm.

Trình độ học vấn của người mẹ ảnh hưởng như thế nào đến việc tiêm chủng của trẻ?

Phân tích thống kê cho thấy trình độ học vấn của mẹ có liên quan mật thiết đến hành vi tiêm chủng. Những bà mẹ có trình độ học vấn dưới THPT có tỷ lệ con không được tiêm đủ cao gấp 2,38 lần so với những bà mẹ tốt nghiệp từ THPT trở lên (OR = 2,38; KTC 95%: 1,05 – 5,39; p = 0,033).

Tại sao tỷ lệ tiêm vắc xin Sởi mũi 1 và DPT mũi 3 đúng lịch trong nghiên cứu lại đạt tỷ lệ thấp?

Tỷ lệ tiêm DPT mũi 3 đúng lịch ở tháng thứ 4 chỉ đạt 45,5% và tiêm Sởi đúng ở tháng thứ 9 chỉ đạt 1,5%. Nguyên nhân chủ yếu do việc tiêm trễ các mũi trước đó tạo hiệu ứng dây chuyền, kết hợp với việc trẻ thường xuyên ốm vặt ở giai đoạn mọc răng hoặc ăn dặm khiến phụ huynh chủ động hoãn tiêm.

Kênh truyền thông nào mang lại hiệu quả cao nhất đối với các bà mẹ tại vùng nông thôn?

Nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 95,2% bà mẹ khẳng định nhân viên y tế và cộng tác viên y tế tại cộng đồng là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất về tiêm chủng mở rộng, vượt trội hoàn toàn so với truyền hình (0,9%), đài phát thanh (3,0%) và mạng xã hội.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ nét bức tranh dịch tễ học tiêm chủng tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang với tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt 88,8% nhưng tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch còn thấp, chỉ dừng lại ở mức 43,9%.
  • Nghiên cứu chỉ ra khoảng trống kiến thức lớn của các bà mẹ, khi có tới 82,7% chưa hiểu đúng về các phản ứng sau tiêm và 70,9% chưa biết cách xử trí đúng khi trẻ gặp biến cố bất lợi.
  • Đề tài chứng minh các yếu tố nguy cơ chính làm tăng tỷ lệ tiêm chủng không đầy đủ gồm: trình độ học vấn của mẹ dưới THPT (OR = 2,38), hiểu biết chưa đúng về chương trình TCMR (OR = 3,40) và hiểu sai về quy định theo dõi sau tiêm (OR = 5,57).
  • Công trình cung cấp hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp thực tiễn cho ngành y tế địa phương, kết hợp giữa công nghệ nhắc lịch tự động, nâng cao năng lực tư vấn của trạm y tế và truyền thông trọng điểm tại cộng đồng.
  • Các đơn vị quản lý y tế dự phòng và nhà nghiên cứu có thể khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng mô hình đánh giá và triển khai các chương trình can thiệp nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cho trẻ em vùng Đồng bằng sông Cửu Long.