Nghiên cứu tình hình và yếu tố liên quan đến tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ có con từ 12 24 tháng tuổi tại huyện chợ mới tỉnh an giang

Nghiên cứu tình hình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới, An Giang và các yếu tố liên quan từ bà mẹ có con 12-24 tháng.

Chuyên ngành

Y Học Dự Phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2021

120
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm chương trình tiêm chủng mở rộng

1.2. Các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới một tuổi

1.3. An toàn tiêm chủng

1.4. Tình hình nghiên cứu về tiêm chủng ở trẻ em

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ tiêm chủng đủ mũi, đúng lịch, kiến thức và thực hành về tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi

3.3. Các yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đủ mũi, đúng lịch, kiến thức và thực hành về tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi

4.3. Mối liên quan đến tiêm chủng không đầy đủ, đúng lịch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Tiêm Chủng Mở Rộng Tại Huyện Chợ Mới

Nghiên cứu tình hình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới, An Giang là một vấn đề quan trọng trong công tác y tế cộng đồng. Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được triển khai từ năm 1981, nhằm mục đích giảm thiểu tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Tại huyện Chợ Mới, việc thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi gặp nhiều thách thức, từ nhận thức của phụ huynh đến điều kiện cơ sở vật chất tại các trạm y tế.

1.1. Tình Hình Tiêm Chủng Mở Rộng Tại Huyện Chợ Mới

Tình hình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới cho thấy tỷ lệ tiêm chủng chưa đạt yêu cầu. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ chỉ đạt khoảng 80%, thấp hơn so với mục tiêu quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải cải thiện công tác tuyên truyền và giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ.

1.2. Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Tiêm Chủng Mở Rộng

Nghiên cứu này không chỉ giúp đánh giá tình hình tiêm chủng mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý y tế có những biện pháp can thiệp kịp thời, nâng cao tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Tiêm Chủng Mở Rộng

Mặc dù chương trình tiêm chủng mở rộng đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề và thách thức cần giải quyết. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt thông tin và kiến thức về tiêm chủng trong cộng đồng. Nhiều bà mẹ vẫn còn lo ngại về tác dụng phụ của vắc xin, dẫn đến việc không đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch.

2.1. Thiếu Kiến Thức Về Tiêm Chủng

Nhiều bà mẹ chưa hiểu rõ về lợi ích của việc tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi. Theo khảo sát, chỉ có 60% bà mẹ biết rõ lịch tiêm chủng và các loại vắc xin cần thiết. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ.

2.2. Tâm Lý Lo Ngại Về Tác Dụng Phụ

Tâm lý lo ngại về tác dụng phụ của vắc xin là một trong những rào cản lớn nhất trong việc tiêm chủng. Nghiên cứu cho thấy khoảng 30% bà mẹ không đưa trẻ đi tiêm chủng vì sợ phản ứng sau tiêm. Cần có các chiến dịch truyền thông để giảm bớt lo ngại này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Hình Tiêm Chủng

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong nghiên cứu này bao gồm khảo sát định lượng và định tính. Khảo sát định lượng được thực hiện thông qua bảng hỏi, trong khi khảo sát định tính thông qua phỏng vấn sâu với các bà mẹ có con dưới 1 tuổi. Điều này giúp thu thập thông tin đa chiều về tình hình tiêm chủng.

3.1. Khảo Sát Định Lượng

Khảo sát định lượng được thực hiện trên 200 bà mẹ tại huyện Chợ Mới. Bảng hỏi bao gồm các câu hỏi về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến tiêm chủng. Kết quả cho thấy có sự thiếu hụt nghiêm trọng về kiến thức tiêm chủng.

3.2. Phỏng Vấn Định Tính

Phỏng vấn sâu với 20 bà mẹ cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng, bao gồm sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng. Những câu chuyện cá nhân đã giúp làm rõ hơn về tâm lý và hành vi của các bà mẹ trong việc đưa trẻ đi tiêm chủng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tiêm Chủng Mở Rộng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới chỉ đạt 75%. Các yếu tố như kiến thức của bà mẹ, sự hỗ trợ từ cộng đồng và điều kiện kinh tế gia đình có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ này. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng.

4.1. Tỷ Lệ Tiêm Chủng Đầy Đủ

Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Chợ Mới chỉ đạt 75%, thấp hơn so với mục tiêu quốc gia. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp ngay lập tức để cải thiện tình hình.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tiêm Chủng

Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng là yếu tố quan trọng nhất. Những bà mẹ có kiến thức tốt về tiêm chủng có tỷ lệ đưa trẻ đi tiêm cao hơn 30% so với những bà mẹ thiếu kiến thức.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Tỷ Lệ Tiêm Chủng

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần thiết phải nâng cao nhận thức của cộng đồng về tiêm chủng mở rộng. Các biện pháp như tổ chức các buổi tuyên truyền, cung cấp thông tin đầy đủ về lợi ích của tiêm chủng sẽ giúp cải thiện tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan y tế và cộng đồng.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Tuyên Truyền

Tổ chức các buổi tuyên truyền về lợi ích của tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi. Cần sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để tiếp cận nhiều bà mẹ hơn.

5.2. Cải Thiện Điều Kiện Tiêm Chủng

Cần cải thiện cơ sở vật chất tại các trạm y tế để đảm bảo an toàn và thuận tiện cho việc tiêm chủng. Đảm bảo đủ vắc xin và nhân lực để thực hiện tiêm chủng đúng lịch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Nghiên cứu tình hình và yếu tố liên quan đến tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ có con từ 12 24 tháng tuổi tại huyện chợ mới tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm chương trình tiêm chủng mở rộng 1. Một số khái niệm về tiêm chủng mở rộng Một trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ là được nhận đầy đủ các loại vắc xin chủng ngừa các bệnh truyền nhiễm: Bệnh viêm gan B, bệnh lao, bệnh bạch hầu, bệnh ho gà, bệnh uốn ván, bệnh bại liệt, bệnh do Haemophilus influenzae type b, bệnh sởi [5]. Trong đó, đặc biệt Vắc xin viêm gan B được tiêm cho trẻ trong vòng 24 giờ sau sinh.

Tiêm chủng là đưa vào cơ thể bằng đường tiêm hoặc uống các kháng nguyên đặc hiệu của một loại vi khuẩn gây bệnh đã làm giảm độc lực để kích thích cơ thể trẻ sinh ra kháng thể đặc hiệu giúp cho cơ thể chống lại khi có sự xâm nhập của vi khuẩn và không mắc bệnh [22]. Vắc xin là thuốc chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch được dùng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh [29]. Hỗn hợp kháng nguyên để gây miễn dịch chủ động thường là các vi khuẩn, virus sống đã giảm độc lực không có khả năng gây bệnh hoặc là các vi khuẩn bất hoạt các thành phần của vi khuẩn, virus, các độc tố đã giảm độc lực, các kháng nguyên protein đặc hiệu được tinh khiết. Trong vắc xin ngoài các kháng nguyên gây miễn dịch đặc hiệu còn có các chất phụ gia làm tăng hoạt tính kháng nguyên, làm tăng thời gian thời gian tiếp xúc của kháng nguyên bằng cách bài tiết kháng nguyên từ từ, các chất bảo quản giữ cho kháng nguyên ổn định và ngăn vi khuẩn phát triển và các môi trường chứa vi khuẩn, virus [22].

Miễn dịch chủ động được tạo thành bởi kháng nguyên của các vi sinh vật hoặc độc tố của chúng khi được sử dụng – đó chính là các vắc xin. Sau khi tiêm đủ mũi cơ bản, miễn dịch sẽ duy trì ở mức cao trong nhiều tháng, nhiều năm cho dù lượng kháng thể có thể giảm xuống nhưng cơ chế miễn dịch ở nhiều 4 trường hợp vẫn rất nhạy cảm giúp cơ thể đáp ứng rất nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh [23]. Miễn dich thụ động chống lại các tác nhân gây bệnh ở trẻ em thường do được người mẹ truyền sang nhưng miễn dịch này chỉ tồn tại trong vòng 6 tháng sau sinh. Miễn dịch thụ động nhân tạo có được do tiêm globulin miễn dịch lấy từ người có hoặc các kháng huyết thanh dị loại [23].

Tiêm chủng mở rộng (TCMR) là hoạt động tiêm chủng do nhà nước tổ chức miễn phí cho những đối tượng phải sử dụng vắc xin bắt buộc theo quy định của luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm [8]. Tiêm chủng dịch vụ là hoạt động tiêm chủng tự nguyên theo nhu cầu của người dân [8]. Ở các nước khác, tiêm chủng dịch vụ chỉ dành cho các loại vắc xin phòng ngừa những bệnh không phổ biến. Mặt khác, Việt Nam là nước có 2 hệ thống tiêm chủng song song, tức là hệ thống tiêm chủng dịch vụ cung cấp các vắc xin phòng ngừa các bệnh trong chương trình TCMR nhưng dưới hình thức có thu phí [1].

Phân loại vắc xin - Vắc xin giải độc tố: loại vắc xin này được sản xuất từ ngoại độc tố của vi khuẩn đã được làm mất tính độc những vẫn giữ được tính kháng nguyên. Vắc xin giải độc tố kích thích cơ thể sản xuất ra kháng độc tố, là loại kháng thể có khả năng trung hoà ngoại độc tố. Vắc xin này nhằm phòng, chống các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây bệnh chủ yếu bằng ngoại độc tố [18]. - Vắc xin chết toàn thể hoặc kháng nguyên tinh chế: loại vắc xin ngày sản xuất từ các vi sinh vật gây bệnh.

Sau khi vi sinh vật đã bị giết chết có thể lấy toàn bộ huyền dịch làm vắc xin, hoặc tinh chế lấy các thành phần kháng nguyên quan trọng, trong đó là các “kháng nguyên bảo vệ”. Các kháng thể được hình thành có thể trực tiếp giết chết vi sinh vật, ngăn cản sự bám dính của chúng vào tế bào cơ thể vật chủ, làm tăng khả năng thực bào…hoặc phối hợp các cơ chế trên [18]. - Vắc xin sống giảm độc lực: loại vắc xin này sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật giống vi sinh vật gây bệnh về cấu trúc kháng nguyên, đã 5 được giảm độc lực không còn khả năng gây bệnh. Điều phải quan tâm của vắc xin sống là đảm bảo không còn khả năng gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh rất nhẹ, và vi sinh vật phải có tính di truyền ổn định không trở lại độc lực ban đầu [18].

Đáp ứng miễn dịch đối với vắc xin Đáp ứng miễn dich đối với vắc xin có thể chia làm 2 bước: - Bước 1: đáp ứng tiên phát là kháng nguyên sau khi vào cơ thể sẽ được gắn lên bề mặt đại thực bào và được các tế bào lympho T đến nhận diện và biến thành các tế bào hiệu quả trực tiếp phá huỷ tác nhân gây nhiễm khuẩn hoặc biệt hoá thành tế bào T hỗ trợ tiết ra interleukin 2 hoạt hoá tế bào beta thành tế bào nhớ đơn dòng hoặc phasmacell sản xuất kháng thể. Thời gian tối thiểu để sản xuất kháng thể bảo vệ hữu hiệu là 4 ngày. Một số lympho T sau khi nhận diện trở thành tế bào ghi nhớ: yên lắng khi không có kháng nguyên và tái hoạt động khi có sự tái xâm nhập của kháng nguyên; ngoài ra tế bào T nhận diện còn tiết lymphokine kích hoạt tạo phản ứng viêm bảo vệ cơ thể. - Bước 2: đáp ứng miễn dịch thứ phát là sau khi kháng nguyên xâm nhập lần thứ hai sẽ kích hoạt tế bào nhờ T và B sản xuất kháng thể đặc hiệu nhanh và mạnh hơn lần đầu tiên.

Giai đoạn giảm miễn dịch sẽ kéo dài hơn là cơ sở cho việc tái chủng. Tuy nhiên, cần có thời gian thích hợp cho tái chủng vì nếu lượng kháng thể sinh ra sau khi tiêm chủng thứ nhất chưa giảm xuống thì các kháng thể này sẽ kết hợp với kháng nguyên đưa vào khi tái chủng làm giảm lượng kháng nguyên tái kích thích các tế bào nhớ làm đáp ứng miễn dịch giảm đi. Nhưng nếu tái chủng quá 2 lần quá muộn thì lượng kháng thể thấp không đủ sức bảo vệ trẻ. Đáp ứng miễn dịch đối với một loại vắc xin không ảnh hưởng đến các vắc xin khác.

Tiêm nhiều loại vắc xin có thể làm tăng hiệu quả của đáp ứng miễn dịch. Tuy nhiên không nên tiêm cùng lúc hai vắc xin đáp ứng miễn dịch có thể giảm, nên tiêm tách nhau tối thiểu 4 tuần [22]. Các hình thức tiêm chủng được áp dụng ở Việt Nam - Tiêm chủng thường xuyên: Buổi tiêm chủng thường được tổ chức hàng tháng và mỗi tháng thường tổ chức tiêm chủng trong 2 ngày cố định tuỳ vào tình hình và điều kiện mỗi nơi khác nhau mà địa phương sẽ chọn nơi tổ chức tiêm chủng và thời gian tiêm chủng khác nhau. Tuyến xã là nơi tiêm hầu hết các mũi vắc xin cho trẻ và phụ nữ có thai [12].

- Tiêm chủng định kỳ: tại những vùng rất khó tiếp cận, do khó khăn về địa lý, giao thông, dân cư thưa thớt nên mỗi năm chỉ có thể tổ chức tiêm chủng vắc xin cho trẻ từ 3 đến 6 lần. Với hình thức này, trẻ không thể được tiêm chủng đúng lịch mà chỉ cố gắng đảm bảo cho trẻ nhận đủ các liều vắc xin theo quy định [12], [13]. - Tiêm chủng lưu động: các bộ y tế đến tiêm tại nhà các đối tượng xa trạm hoặc có bất kỳ lý do gì không đi tiêm chủng. Tuy nhiên từ năm 2007, Bộ Y tế đã có quy định không tiến hành tiêm chủng theo hình thức này nhằm tăng cường an toàn và chất lượng tiêm chủng [12], [13].

Các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới một tuổi 1. Vắc xin phòng bệnh lao (BCG) Là vắc xin chứa một chủng trực khuẩn. - Mycobacterium sống giảm độc lực, dạng đông khô có kèm theo dung môi pha hồi chỉnh. Vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ 20C đến 80C.

Phần vắc xin còn lại trong lọ sau mỗi buổi tiêm chủng hoặc sau 6 giờ phải huỷ bỏ [12], [38]. - Lịch tiêm chủng: tiêm một lần cho trẻ trong vòng 1 tháng sau khi sinh [5]. - Liều lượng tiêm: 0,1ml tiêm trong da ở mặt ngoài phía trên cánh tay hoặc vai trái. Một số phản ứng có thể gặp ở trẻ: sưng hoặc áp-xe, có thể nổi hạch ở nách hoặc khuỷu tay, một số trường hợp có thể dẫn đến áp-xe [38].

Vắc xin phòng viêm gan B (VGB) - Đặc điểm: Vắc xin viêm gan B có dạng dung dịch đóng lọ 1 liều hoặc 2 liều hoặc trong bơm tiêm tự khoá. Vì vắc xin viêm gan B chỉ chứa duy nhất 1 7 loại kháng nguyên nên người ta còn gọi nó là vắc xin đơn giá. Ngoài ra nó cũng có thể kết hợp với các vắc xin khác để tạo thành các vắc xin phối hợp như DPT- VGB, DPT-VGB+Hib. Tuy nhiên, chỉ có loại vắc xin viêm gan B đơn giá mới được sử dụng tiêm cho trẻ ngay sau sinh Những loại vắc xin phối hợp chỉ sử dụng cho những liều sau [38].

- Lịch tiêm chủng: đối với vắc xin đơn giá thì tiêm trong vòng 24 giờ sau sinh. Đối với vắc xin phối hợp thì tiêm bắt đầu khi trẻ 2 tháng tuổi gồm 3 liều, mỗi liều cách nhau ít nhất 1 tháng [5]. - Liều lượng tiêm: 0,5ml tiêm bắp ở mặt ngoài đùi đối với trẻ nhỏ hoặc mặt ngoài trên cánh tay ở trẻ lớn. Vắc xin viêm gan B là một trong những vắc xin an toàn nhất.

Những phản ứng có thể gặp: đau, đỏ hoặc sưng nhẹ tại chỗ tiêm; sốt nhẹ từ 1 đến 2 ngày sau tiêm [38]. Vắc xin phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uống ván, viêm gan B, viêm phổi/viêm màng não mũ - Đặc điểm: vắc xin phối hợp bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Haemophilus insluenzae type b có tên thương mại là ComBe Five. Trong vắc xin gồm các giải độc tố vi khuẩn bạch hầu, giải độc tố vi khuẩn uốn ván, vi khuẩn ho gà bất hoạt, kháng nguyên vi rút viêm gan B và kháng nguyên vi khuẩn Hib [37]. - Lịch tiêm chủng: tiêm vào tháng thứ 2, thứ 3 và thứ 4 [5].

- Liều lượng tiêm: 0,5ml mỗi liều, tiêm bắp ở 1/3 giữa mặt ngoài đùi. Phản ứng sau tiêm tương tự như những vắc xin có chứa thành phầm DPT, VGB, Hib khác như: sốt nhẹ, đau, đỏ hoặc sưng nhẹ tại chỗ tiêm…[37]. Vắc xin phòng bại liệt - Đặc điểm: Vắc xin phòng ngừa bại liệt trên thị trường có 2 dạng là uống (OPV) và tiêm (IPV).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên Cứu Tình Hình Tiêm Chủng Mở Rộng Cho Trẻ Dưới 1 Tuổi Tại Huyện Chợ Mới, An Giang cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi tại khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích tỷ lệ tiêm chủng mà còn đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận dịch vụ tiêm chủng. Những thông tin này rất hữu ích cho các bậc phụ huynh, nhà quản lý y tế và các tổ chức liên quan, giúp họ hiểu rõ hơn về tình hình sức khỏe trẻ em và từ đó có những biện pháp cải thiện hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực tiêm chủng, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng triển khai và chất lượng số liệu trên hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia tại các cơ sở y tế của tỉnh Hưng Yên năm 2019. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức triển khai và quản lý thông tin tiêm chủng, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về hệ thống tiêm chủng quốc gia.