Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Tình hình song ngữ Việt - Cơ Ho (nghiên cứu trường hợp tỉnh Lâm Đồng)" được tác giả Vũ Văn Toán thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2023, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9229020), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Bùi Khánh Thế và TS. Đinh Lư Giang.

Về tính cấp thiết, Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Nam Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 9.783 km² (số liệu thống kê diện tích tự nhiên toàn tỉnh nêu tại phần Mở đầu là 9.783 km² và tại mục 1.2.1 là 9.730 km²), dân số trên 1,2 triệu người với 47 dân tộc cùng sinh sống đan xen. Dân tộc Cơ Ho (còn có các biến thể tên gọi khác là K’ho, Koho) có dân số đông nhất trong số các dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng với hơn 200 nghìn người, chiếm tỷ lệ trên 15% dân số toàn tỉnh (theo số liệu của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê năm 2019; tại mục 1.2.1 tác giả trích nguồn Cục Thống kê Lâm Đồng năm 2019 ghi nhận khoảng 175 nghìn người). Trên địa bàn tỉnh, trạng thái song ngữ và đa ngữ tồn tại phổ biến: bên cạnh các ngôn ngữ bản địa lâu đời như Cơ Ho, Mạ, Mnông, còn có tiếng Việt và các ngôn ngữ của các cộng đồng thiên cư từ đầu thế kỷ XX như Hoa, Nùng, Tày, Mường. Khu vực Nam Tây Nguyên giữ vị trí trọng yếu trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh – quốc phòng; tuy nhiên việc nghiên cứu song ngữ giữa tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số tại đây vẫn chưa được phát triển tương xứng. Đề tài này kế thừa và phát triển từ luận văn cao học năm 2016 của chính tác giả ("Năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh Cơ Ho ở huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng").

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tính đến thời điểm thực hiện đề tài, các công trình nghiên cứu về song ngữ Việt – tiếng dân tộc thiểu số trong phạm vi địa bàn cư trú hẹp còn rất ít; riêng tại địa bàn cư trú của người Cơ Ho ở tỉnh Lâm Đồng, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận án tiến sĩ giải quyết một cách toàn diện về tình hình song ngữ Việt – Cơ Ho (bao gồm cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, hiện trạng sử dụng, thái độ ngôn ngữ và quá trình thụ đắc ngôn ngữ).

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:

  1. Xác định năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt và tiếng Cơ Ho) của người Cơ Ho.
  2. Mô tả tình hình song ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Cơ Ho ở Lâm Đồng trong các tình huống, lĩnh vực giao tiếp xã hội; rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của cảnh huống ngôn ngữ, người song ngữ, sự phân công chức năng ngôn ngữ.
  3. Thông qua việc mô tả quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành 4 nhiệm vụ:

  • Thứ nhất: Hệ thống hóa những khái niệm có liên quan đến đề tài như cảnh huống ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội, tiếp xúc ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ.
  • Thứ hai: Đánh giá năng lực ngôn ngữ (tiếng Việt và tiếng Cơ Ho) của người Cơ Ho.
  • Thứ ba: Khảo sát thái độ ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Cơ Ho trong các môi trường khác nhau.
  • Thứ tư: Mô tả quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho qua việc nghiên cứu 15 học sinh Cơ Ho bậc trung học cơ sở; tìm ra các yếu tố tác động đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh và đề xuất các giải pháp tác động tích cực đến quá trình này.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ của người Cơ Ho và quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho.

Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Các vấn đề thuộc ngôn ngữ học xã hội tại Lâm Đồng liên quan đến năng lực ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ, thực trạng sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Cơ Ho và sự thụ đắc ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Lâm Đồng, giới hạn trọng tâm tại huyện Di Linh – địa bàn có người Cơ Ho cư trú đông nhất tỉnh (khoảng 60 nghìn người, cư trú tại 16/19 xã và thị trấn). Trong huyện Di Linh, nghiên cứu chọn 3 xã có đặc điểm cư trú và kinh tế – xã hội không đồng nhất:
    • Xã Gia Bắc: Xã vùng sâu, vùng xa, nằm biệt lập cách trung tâm huyện khoảng 40 km, phía Nam giáp huyện Hàm Thuận Bắc (tỉnh Bình Thuận); diện tích tự nhiên 14,268 km², đất nông nghiệp 3,046 km²; có 5 thôn, 595 hộ; tỷ lệ người Cơ Ho chiếm đa số tuyệt đối, sống tách biệt, điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu nước canh tác.
    • Xã Bảo Thuận: Cách thị trấn Di Linh 4 km; diện tích tự nhiên 23,141 km²; có 11 thôn; giao thông đường bộ thuận lợi, người Cơ Ho chiếm đa số (khoảng 90-99%), sinh kế chủ yếu là trồng cà phê và lúa nước, lưu giữ truyền thống văn hóa rõ nét.
    • Xã Tân Châu: Cách thị trấn Di Linh 2 km, có Quốc lộ 28 chạy qua; diện tích tự nhiên 44,63 km²; có 8 thôn; tỷ lệ người Cơ Ho chiếm từ 50-60%, cộng cư với người Kinh; thu nhập bình quân đầu người ở mức khá cao nhờ diện tích đất trồng cà phê lớn.
  • Phạm vi thời gian và cứ liệu: Số liệu thống kê dân số và hành chính của các địa bàn được thu thập căn cứ theo mốc năm 2019 do Ủy ban Nhân dân huyện Di Linh và Cục Thống kê Lâm Đồng cung cấp.
Xã Dân số tổng số Dân số người Cơ Ho Nam tổng số Nam Cơ Ho Nữ tổng số Nữ Cơ Ho
Bảo Thuận 7.022 6.090 3.525 3.106 3.497 2.984
Gia Bắc 3.156 2.978 1.561 1.519 1.604 1.459
Tân Châu 11.209 8.071 4.917 4.197 4.916 3.874

(Nguồn: UBND huyện Di Linh, 2019, được tác giả tổng hợp tại Bảng 0.1 của luận án)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học đi trước theo 3 lĩnh vực cơ bản:

  1. Lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội tại Việt Nam: Tác giả điểm lại các nghiên cứu nền tảng về cảnh huống ngôn ngữ, sự đa dạng của tiếp xúc ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, bao gồm: công trình của Viện Ngôn ngữ học (2002, "Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam"); Hoàng Văn Hành (2002, "Mấy vấn đề về cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam"); Nguyễn Văn Khang (2003c, "Ngôn ngữ tự nhiên và vấn đề chuyển mã trong giao tiếp hội thoại (trên cơ sở tư liệu trạng thái đa ngữ xã hội ở Việt Nam)"; 2019, "Cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan đến nghiên cứu tình hình sử dụng ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam – Một số vấn đề về đa ngữ xã hội"); Phạm Tất Thắng (2004, "Mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ với tiếng Việt trong bối cảnh song ngữ ở Việt Nam"); Đặng Nghiêm Vạn (2003, "Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam"); Nguyễn Thị Thanh Bình (2015, "Kết quả nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội vào thực tiễn ở Việt Nam").

  2. Lĩnh vực nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ, song ngữ và chính sách ngôn ngữ:

  • Các nghiên cứu lý luận và diện rộng về quan hệ tiếp xúc giữa tiếng dân tộc thiểu số với tiếng Việt của Bùi Khánh Thế (1973, 1975, 1993, 2002, 2016 về ngôn ngữ học tiếp xúc và tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam).
  • Các luận án và công trình nghiên cứu song ngữ cụ thể tại từng vùng miền: Đặng Thanh Phương (2004, luận án tiến sĩ lịch sử về tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Tày ở Đông Bắc); Hoàng Quốc (2009a, luận án tiến sĩ ngôn ngữ học về song ngữ Việt - Hoa tại An Giang; 2009b; 2012; 2014; 2015 về tình hình sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông Cửu Long); Đinh Lư Giang (2011, luận án tiến sĩ ngôn ngữ học về tình hình song ngữ Khmer - Việt tại đồng bằng sông Cửu Long); Đinh Lê Thư (2005); Tạ Văn Thông (2019, "Giáo dục ngôn ngữ ở các vùng dân tộc thiểu số Việt Nam"); Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi và Tạ Văn Thông (2013, "Ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (những vấn đề chung)").
  • Các nghiên cứu về năng lực sử dụng tiếng Việt và thang đo năng lực của người dân tộc thiểu số: Nguyễn Văn Hiệu (1997, khảo sát song ngữ Phù Lá - Việt ở Lào Cai, phân chia 3 cấp độ thành thạo; 2006); Trần Thị Kim Thuận (1998, đánh giá năng lực tiếng Việt qua 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết); Bùi Minh Yến (2004, khảo sát thái độ ngôn ngữ của người Cơ Ho ở Lộc Nam, Bảo Lâm, Lâm Đồng); Trần Trí Dõi (1996, 1999, 2004 về thực trạng giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số); Vũ Thị Thanh Hương (2011); Tạ Văn Thông và Tạ Quang Tùng (2019).
  • Tác giả cũng liệt kê các chương trình và dự án điều tra cấp viện, cấp quốc gia do Viện Ngôn ngữ học và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia chủ trì trong giai đoạn 1993–2010 (Dự án tổng thể điều tra cơ bản ngôn ngữ các dân tộc thiểu số 1994–1999; Đề tài Bức tranh toàn cảnh các ngôn ngữ ở Việt Nam; Dự án nghiên cứu mã hóa chữ viết cổ truyền 2001–2006...).
  1. Lĩnh vực nghiên cứu tiếng Cơ Ho và song ngữ Việt – Cơ Ho tại Lâm Đồng:
  • Thời kỳ trước năm 1975: Các công trình của học giả Pháp như Condominas, G. (1949, 1954 trên tạp chí Viễn đông Bác cổ, nghiên cứu ngữ âm tiếng Cơ Ho gắn với ký hiệu chữ viết); Bochet, G. và Dournes, J. (1950 biên soạn "Tiếng dân miền núi", "Từ điển Sre (Cơ Ho) - Pháp"; năm 1953 xuất bản "Lexique Polyglote: Francais-Kơho-Roglai-Vietnamien"); Smalley, W.A. (1954 trên tạp chí American Oriental Society với bài viết "Sre Phonemes and Syllables" về âm vị và âm tiết tiếng Cơ Ho); Viện Ngữ học mùa hè (SIL) trong thập niên 1960 đặt ra hệ thống chữ viết Cơ Ho trên cơ sở chữ Latinh, biên soạn giáo trình ("Kơho language course", 1972), từ điển đối chiếu và kinh thánh; Manley, T.M. (1972, "Outline of Sre Structure" ứng dụng ngữ pháp tạo sinh vào phân tích từ, ngữ đoạn và câu tiếng Cơ Ho); Nguyễn Văn Hoan (1973, "K'ho-Sre Affixion" nghiên cứu tiền tố, trung tố tiếng Cơ Ho đối chiếu với ngôn ngữ Môn - Khmer).
  • Thời kỳ sau năm 1975: Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Viện Ngôn ngữ học biên soạn cuốn "Từ điển Việt - K’ho" (1983); Tạ Văn Thông (1983, 1985 với chuyên khảo "Ngữ pháp tiếng K’ho", 1992, 2004); Nguyễn Diệp (1988 với sách giáo khoa dạy tiếng Cơ Ho "Vơsram sền srá" do UBND tỉnh Lâm Đồng ấn hành); Vũ Bá Hùng và Tạ Văn Thông (1983); Lê Khắc Cường (1995a; 2000 trong luận án tiến sĩ ngữ văn về cơ cấu ngữ âm tiếng Xtiêng có xây dựng bảng đối chiếu từ vựng Việt - Xtiêng - Cơ Ho - Chơ Ro - Mnông và Lạc - Việt).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả nhận định các nghiên cứu về tiếng Cơ Ho trước đây hầu hết là nghiên cứu miêu tả chuyên biệt từng bình diện cấu trúc ngôn ngữ riêng lẻ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp hoặc chữ viết). Chưa có công trình nào tiếp cận tiếng Cơ Ho và mối quan hệ Việt - Cơ Ho dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội một cách hệ thống, gắn việc khảo sát năng lực ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ, chức năng giao tiếp với quá trình thụ đắc ngôn ngữ thực tế của học sinh Cơ Ho tại Lâm Đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết và khái niệm thuộc ngôn ngữ học xã hội:

  • Bản chất ngôn ngữ học xã hội: Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội. Tác giả tiếp thu sự phân chia giữa ngôn ngữ học xã hội vĩ mô (cung cấp khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng) và vi mô (nghiên cứu giao tiếp trong các môi trường cụ thể, gắn với các biến số xã hội học như lứa tuổi, giới tính, học vấn, tộc người). Tác giả trích dẫn quan điểm của Labov (2006) về "ngôn ngữ học thế tục" (Secular Linguistics), Fishman (1996) về ranh giới tương đối giữa ngôn ngữ học xã hội và xã hội học ngôn ngữ, cùng quan điểm của Rubén Chacón-Beltrán (2013) xem ngôn ngữ như tấm gương phản chiếu xã hội.
  • Tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ quốc gia: Phân tích các luận điểm của Weinreich, U. (1953), Leontiev, A.A. (1967), Skutnabb-Kangas, T. (1992) và các định nghĩa của UNESCO (1953, 1968) nhằm làm rõ tính tương đối, không cố định của khái niệm tiếng mẹ đẻ trong xã hội đa ngữ, cũng như mối liên hệ giữa tiếng mẹ đẻ với ý thức tự giác tộc người. Đối với khái niệm ngôn ngữ quốc gia, tác giả sử dụng định nghĩa của Nguyễn Văn Khang (2003a) và căn cứ pháp lý từ Hiến pháp năm 2013 xác định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia.
  • Cảnh huống ngôn ngữ: Dựa trên khung lý thuyết của Nguyễn Văn Khang (2012), cảnh huống ngôn ngữ được miêu tả qua 3 nhóm tiêu chí:
    • Tiêu chí định lượng: Số lượng ngôn ngữ (đơn thành tố / đa thành tố); số lượng người nói; số lượng phạm vi giao tiếp (cân bằng / phi cân bằng).
    • Tiêu chí định chất: Đặc điểm ngôn ngữ (đơn ngữ / đa ngữ cấp quốc gia); quan hệ loại hình và cội nguồn (đồng hình / phi đồng hình, đồng nguồn / phi đồng nguồn); tính cân đối về chức năng (cân bằng / phi cân bằng); tính nổi trội (nội ngôn / ngoại ngôn).
    • Tiêu chí định giá: Sự đánh giá của người bản ngữ đối với tiếng mẹ đẻ và đối với ngôn ngữ khác.
  • Thái độ ngôn ngữ: Đối chiếu hai khuynh hướng nghiên cứu gồm tinh thần luận (mentalism, theo Williams, L., 1972) và hành vi luận (behaviorism, theo Fasold, R., 1984). Luận án lựa chọn hướng tiếp cận hành vi luận, quan sát và phân tích thái độ ngôn ngữ thông qua hành vi ứng xử ngôn từ công khai của người Cơ Ho.
  • Song ngữ, tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ: Tiếp thu các quan điểm của Nguyễn Văn Khang (2012) và Hoàng Quốc (2009). Giao tiếp trong xã hội song ngữ được phân tích qua 3 khả năng: lựa chọn một ngôn ngữ duy nhất, sử dụng đồng thời các ngôn ngữ tùy theo bối cảnh, hoặc chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing). Giao thoa ngôn ngữ được xem xét như hiện tượng chệch chuẩn của một ngôn ngữ dưới tác động của ngôn ngữ kia (dẫn theo Hoàng Phê, 2004 và Nguyễn Văn Khang, 2012).
  • Thụ đắc ngôn ngữ: Vận dụng lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Krashen, S.D. (1977, 1981) với mô hình 5 giả thiết trung tâm, phân biệt giữa thụ đắc tự nhiên (acquisition) và thụ đắc qua học tập (learning); quan điểm hoạt động lời nói xã hội của Leontiev, A.N. (1978) và trường phái Vygotsky (Mcleod, S., 2022); lý thuyết tâm lý xã hội học về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của Gardner, R.C. và Lambert, W.E. (1972, 1974) nhấn mạnh vai trò quyết định của thái độ và động cơ học tập; mô hình tiếp biến văn hóa của Schumann, J. (1978).
  • Chính sách ngôn ngữ: Phân tích định nghĩa của V. Avrorin (1970), Nguyễn Như Ý (1985), Nguyễn Văn Khang (2014); xác định 4 giai đoạn xây dựng chính sách (hình thành, luật hóa, chi tiết hóa, áp dụng) và 3 phạm vi then chốt đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số: lựa chọn ngôn ngữ, bảo tồn ngôn ngữ, phát triển song ngữ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp tiếp cận định tính và định lượng:

  • Phương pháp miêu tả: Mô tả đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng Cơ Ho tại Lâm Đồng, thực trạng cảnh huống và hành vi ngôn ngữ.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Tham dự và ghi nhận thực tế giao tiếp ngôn ngữ nói và viết tại gia đình, cơ quan hành chính, trường học, chợ, cuộc họp thôn, giờ ra chơi của học sinh; kết hợp ghi âm, chụp ảnh, gỡ băng điền dã.
  • Phương pháp đối chiếu: So sánh dữ liệu ngôn ngữ giữa 3 xã nghiên cứu theo các biến phân tầng xã hội học.
  • Phương pháp thống kê, phân tích định lượng: Thu thập thông tin qua phỏng vấn cấu trúc bằng bảng hỏi; tổng hợp và xử lý dữ liệu số lượng bằng phần mềm MS Excel.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Nghiên cứu trường hợp chuyên sâu đối với 15 học sinh THCS, kết hợp phỏng vấn học sinh, phụ huynh, giáo viên, bạn bè và rà soát học bạ, kết quả học tập.

Tiêu chí và công cụ đánh giá năng lực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ của người Cơ Ho được đo lường qua 3 tiêu chí:

  • Tiêu chí 1: Đánh giá tự cảm nhận về ngôn ngữ trên 5 khía cạnh đối với cả tiếng Việt và tiếng Cơ Ho (ngôn ngữ mẹ đẻ; ngôn ngữ yêu quý nhất; ngôn ngữ cần thiết nhất; ngôn ngữ dễ học nhất; ngôn ngữ sử dụng nhiều nhất).
  • Tiêu chí 2: Đánh giá kỹ năng qua 2 nhóm (nghe – nói và đọc – viết) theo thang đo 6 mức (không biết, rất kém, tạm, trung bình, khá, thuần thục), thông qua bài kiểm tra chuẩn hóa:
    • Đối với tiếng Việt: 01 bài đọc hiểu đọc to phát hiện lỗi ngữ âm; 01 bài tập trắc nghiệm lựa chọn từ (multiple choice); 01 bài tập đúng/sai (true/false) kiểm tra mức độ hiểu văn bản; 01 bài tập điền từ; 01 bài viết giới thiệu gia đình; 01 bài phỏng vấn trực tiếp kiểm tra nghe – nói.
    • Đối với tiếng Cơ Ho: 01 bài đọc hiểu đọc to; 01 bài tập viết câu trả lời cho câu hỏi đọc hiểu; 01 bài viết giới thiệu gia đình; 01 bài phỏng vấn trực tiếp kiểm tra nghe – nói.
  • Tiêu chí 3: Tình hình sử dụng tiếng Cơ Ho và tiếng Việt trong 4 môi trường giao tiếp chính (môi trường gia đình, hàng xóm; môi trường hành chính; môi trường kinh doanh, buôn bán; môi trường giáo dục).

Nguồn tư liệu và mẫu khảo sát

  • Mẫu định lượng (áp dụng cho Chương 2 và Chương 3): Gồm 300 cộng tác viên (CTV) là người Cơ Ho tại huyện Di Linh, phân bổ đều tại 3 xã (Bảo Thuận: 100 người; Tân Châu: 100 người; Gia Bắc: 100 người). Mẫu được phân tầng theo 3 tiêu chí:
    • Phân tầng 1 – Độ tuổi: 4 nhóm (01–18 tuổi; 19–30 tuổi; 31–60 tuổi; trên 60 tuổi).
    • Phân tầng 2 – Giới tính: Nam và Nữ.
    • Phân tầng 3 – Khu vực cư trú: Vùng gần thị trấn tập trung 90-99% người Cơ Ho (Bảo Thuận); vùng có 50-60% người Cơ Ho cộng cư với người Kinh (Tân Châu); vùng biệt lập 90-99% người Cơ Ho (Gia Bắc).
  • Mẫu nghiên cứu điển hình (áp dụng cho Chương 4): Gồm 15 học sinh dân tộc Cơ Ho đang học lớp 6 tại 3 trường THCS (THCS Bảo Thuận, THCS Gia Bắc, THCS Tân Châu), mỗi trường 5 học sinh. Mẫu có cha mẹ đều là người Cơ Ho, hoàn cảnh kinh tế gia đình tương đồng nhưng có học lực phân hóa: 05 học sinh giỏi, 04 học sinh khá, 03 học sinh trung bình, 03 học sinh yếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các vấn đề thực tiễn

Chương 1 thiết lập khung lý luận ngôn ngữ học xã hội và phác họa bức tranh thực tiễn địa bàn nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa các khái niệm lý thuyết: Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô và vi mô, mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ quốc gia; 3 nhóm tiêu chí xác định cảnh huống ngôn ngữ (định lượng, định chất, định giá); các tiếp cận thái độ ngôn ngữ (tinh thần luận và hành vi luận); các hình thái giao tiếp trong xã hội song ngữ (dùng một ngôn ngữ, dùng luân phiên, chuyển mã, trộn mã); hiện tượng tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ; các mô hình thụ đắc ngôn ngữ (Krashen, Gardner & Lambert, Schumann); quy trình và phạm vi của chính sách ngôn ngữ.
  • Khái quát thực tiễn tỉnh Lâm Đồng và huyện Di Linh: Tỉnh Lâm Đồng có 47 dân tộc, trong đó người Cơ Ho chiếm hơn 15% (khoảng 175–200 nghìn người). Huyện Di Linh có diện tích 161.463 ha, dân số trên 160.000 người với 28 dân tộc, người Cơ Ho chiếm 36% dân số (khoảng 60 nghìn người), sinh sống tập trung tại 15 xã với 75 thôn. Đời sống cộng cư lâu đời giữa người Cơ Ho và người Kinh từ đầu thế kỷ XX đã hình thành trạng thái song ngữ tự nhiên và hiện tượng trộn mã trong đời sống hàng ngày.
  • Bức tranh ngôn ngữ Cơ Ho: Tiếng Cơ Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer (ngữ hệ Nam Á). Luận án trình bày hệ thống ngữ âm, từ vựng và thanh điệu qua các bảng so sánh giữa các nhóm phương ngữ Cơ Ho chính trên địa bàn huyện Di Linh (gồm phương ngữ Srê, Cơ Dòn, Nộp):
    • Bảng 1.1: Sự trùng nhau về ngữ âm giữa các nhóm phương ngữ.
    • Bảng 1.2: So sánh từ vựng giữa các nhóm phương ngữ Cơ Ho.
    • Bảng 1.3: So sánh về mặt ngữ âm của các nhóm phương ngữ Cơ Ho.
    • Bảng 1.4: Hiện tượng biến đổi phụ âm và nhóm âm ở các nhóm phương ngữ Cơ Ho.
    • Bảng 1.5: Hệ thống thanh điệu ở các nhóm phương ngữ Cơ Ho. Nhóm phương ngữ Srê là nhóm đa số tại Di Linh (tập trung ở Bảo Thuận, Tân Châu, Đinh Lạc, Gung Ré gắn với canh tác lúa nước) và được chọn làm cơ sở biên soạn tài liệu dạy học chính thức chữ Cơ Ho tại Lâm Đồng.
  • Tình hình dạy tiếng Cơ Ho tại Lâm Đồng: Điểm lại các mốc lịch sử từ sách giáo khoa "Vơsram sền srá" năm 1988 của Nguyễn Diệp, từ điển Việt - K'ho năm 1983 đến việc tổ chức các lớp dạy chữ Cơ Ho cho cán bộ và học sinh trên địa bàn tỉnh.

Chương 2: Năng lực ngôn ngữ của người Cơ Ho

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát định lượng trên mẫu 300 người Cơ Ho tại 3 xã (Bảo Thuận, Gia Bắc, Tân Châu) theo 3 phân tầng (độ tuổi, giới tính, địa bàn cư trú):

  • Năng lực ngôn ngữ qua tự đánh giá:
    • Tự đánh giá trình độ tiếng Cơ Ho (Bảng 2.1): Tỷ lệ tự nhận biết và sử dụng thuần thục tiếng mẹ đẻ ở kỹ năng nghe – nói chiếm tỷ lệ áp đảo ở mọi độ tuổi; tuy nhiên ở kỹ năng đọc – viết, tỷ lệ người tự đánh giá ở mức không biết hoặc rất kém tăng cao, đặc biệt ở người lớn tuổi và các khu vực ít có điều kiện tiếp cận chữ viết Cơ Ho.
    • Tự đánh giá trình độ tiếng Việt (Bảng 2.2): Khả năng tự đánh giá tiếng Việt có sự phân hóa rõ nét theo lứa tuổi và địa bàn cư trú. Nhóm tuổi trẻ (01–18 tuổi và 19–30 tuổi) tự đánh giá mức độ thuần thục tiếng Việt cao hơn đáng kể so với nhóm trên 60 tuổi; người Cơ Ho tại xã Tân Châu và Bảo Thuận tự tin về vốn tiếng Việt hơn người Cơ Ho tại vùng sâu Gia Bắc.
  • Năng lực ngôn ngữ qua kiểm tra kỹ năng thực tế:
    • Kỹ năng nghe – nói tiếng Cơ Ho (Bảng 2.3): Đại đa số người Cơ Ho đạt mức thuần thục trong giao tiếp sinh hoạt bằng lời nói tiếng mẹ đẻ.
    • Khả năng đọc trôi chảy văn bản tiếng Cơ Ho (Bảng 2.4): Xuất hiện sự chênh lệch lớn giữa khả năng nói và khả năng đọc; tỷ lệ đọc trôi chảy chữ Cơ Ho đạt tỷ lệ thấp do chữ viết Cơ Ho không được sử dụng phổ cập trong đời sống văn bản thường nhật.
    • Điểm số phần viết câu trả lời cho câu hỏi tiếng Cơ Ho (Bảng 2.5) và điểm số phần viết đoạn văn tiếng Cơ Ho (Bảng 2.6): Thể hiện sự lúng túng của người khảo sát về mặt chính tả, dùng từ và ngữ pháp chữ viết dân tộc.
    • Khả năng hiểu văn bản tiếng Việt và tiếng Cơ Ho (Bảng 2.7): Thống kê khả năng trả lời đúng các câu hỏi trắc nghiệm đọc hiểu, bài tập lựa chọn từ và bài kiểm tra đúng/sai. Tỷ lệ hoàn thành tốt các bài kiểm tra tiếng Việt tập trung vào nhóm học sinh và thanh niên có trình độ học vấn phổ thông.

Chương 3: Thái độ ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Cơ Ho ở Lâm Đồng

Chương 3 phân tích dữ liệu khảo sát về nhận thức, thái độ và hành vi lựa chọn ngôn ngữ thực tế của 300 CTV:

  • Vấn đề tiếng mẹ đẻ và thái độ ngôn ngữ:
    • Khảo sát về ngôn ngữ của CTV (Bảng 3.1): Đa số người Cơ Ho vẫn khẳng định tiếng Cơ Ho là ngôn ngữ mẹ đẻ, là ngôn ngữ yêu quý nhất và là biểu trưng cho bản sắc văn hóa tộc người.
    • Khảo sát ý kiến người Cơ Ho về lợi ích của tiếng Việt (Bảng 3.2): Cộng đồng Cơ Ho có nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của tiếng Việt; tiếng Việt được xác định là ngôn ngữ cần thiết nhất cho việc học tập, tìm kiếm việc làm, phát triển kinh tế, giao tiếp xã hội và tiếp cận các dịch vụ hành chính công.
  • Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong các môi trường giao tiếp cụ thể:
    • Môi trường gia đình: Tiếng Cơ Ho giữ vị trí thống trị trong giao tiếp giữa các thế hệ ông bà, cha mẹ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của tiếng Việt bắt đầu gia tăng trong giao tiếp giữa anh chị em và khi cha mẹ hướng dẫn con cái học tập.
    • Môi trường hàng xóm, cộng đồng: Ở Gia Bắc và Bảo Thuận, tiếng Cơ Ho là ngôn ngữ chính trong giao tiếp thôn xóm; tại Tân Châu, có sự đan xen linh hoạt giữa tiếng Cơ Ho và tiếng Việt tùy thuộc vào thành phần dân tộc của người đối thoại.
    • Môi trường hành chính: Tiếng Việt giữ vai trò độc tôn trong văn bản giấy tờ và thủ tục hành chính tại UBND xã; trong giao tiếp miệng giữa cán bộ người Cơ Ho với người dân Cơ Ho, có sự chuyển mã linh hoạt sang tiếng Cơ Ho để giải thích chính sách.
    • Môi trường giáo dục: Tiếng Việt là ngôn ngữ giảng dạy chính thức trong lớp học; tiếng Cơ Ho xuất hiện ở các giờ học tiếng dân tộc hoặc được giáo viên dùng để giải thích từ ngữ khó cho học sinh lớp nhỏ; trong giờ ra chơi, học sinh có xu hướng trộn mã Việt – Cơ Ho.
    • Môi trường kinh doanh, thương mại: Tại các chợ truyền thống và cửa hàng, tiếng Việt được sử dụng chủ yếu khi mua bán với người Kinh; giao dịch giữa người Cơ Ho với nhau vẫn dùng tiếng mẹ đẻ.
    • Môi trường thể thao, văn nghệ, tín ngưỡng, lễ hội: Hoạt động tôn giáo, lễ hội truyền thống (lễ hội Cồng Chiêng, mừng lúa mới) sử dụng tiếng Cơ Ho như một phương tiện biểu đạt văn hóa tâm linh; các hoạt động thể thao, phong trào văn hóa quần chúng do nhà nước tổ chức sử dụng tiếng Việt.

Chương 4: Thụ đắc ngôn ngữ của học sinh dân tộc Cơ Ho ở Lâm Đồng

Chương 4 tập trung vào phương pháp nghiên cứu điển hình trên 15 học sinh THCS lớp 6:

  • Mô tả tình hình sử dụng ngôn ngữ của 15 trường hợp nghiên cứu điển hình:
    • Nhóm 05 trường hợp nghiên cứu tại xã Bảo Thuận (Bảng 4.1).
    • Nhóm 05 trường hợp nghiên cứu tại xã Gia Bắc (Bảng 4.2).
    • Nhóm 05 trường hợp nghiên cứu tại xã Tân Châu (Bảng 4.3). (Các trường hợp được mô tả chi tiết về hoàn cảnh gia đình, học lực giỏi, khá, trung bình, yếu; mức độ thành thạo hai ngôn ngữ qua 6 mức; tỷ lệ thời gian sử dụng tiếng Việt và tiếng Cơ Ho với bố mẹ, thầy cô, bạn bè người Kinh và bạn bè người Cơ Ho).
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho:
    • Môi trường giao tiếp gia đình: Mức độ biết và sử dụng tiếng Việt của cha mẹ tác động trực tiếp đến vốn tiếng Việt ban đầu của trẻ trước khi đến trường.
    • Môi trường trường học và quan hệ bạn bè: Mật độ học sinh người Kinh trong lớp học tạo ra môi trường tương tác tiếng Việt tự nhiên; học sinh tại Gia Bắc (trường học gần như 100% học sinh Cơ Ho) có tốc độ thụ đắc tiếng Việt chậm hơn học sinh tại Tân Châu và Bảo Thuận.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội và phương tiện truyền thông: Khả năng tiếp cận tivi, sách báo, internet, mạng xã hội hỗ trợ quá trình tích lũy ngôn ngữ tự nhiên.
    • Động cơ và thái độ học tập: Thái độ tích cực đối với tiếng Việt giúp học sinh vượt qua rào cản phát âm và lỗi ngữ pháp.
  • Đề xuất giải pháp và kiến nghị:
    • Nhóm giải pháp chung: Tăng cường môi trường giao lưu văn hóa – ngôn ngữ; nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt tăng cường cho học sinh dân tộc thiểu số ngay từ bậc mầm non và tiểu học.
    • Nhóm giải pháp cụ thể: Đổi mới phương pháp dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai; sử dụng ngữ liệu dạy học gần gũi với văn hóa bản địa; bồi dưỡng năng lực tiếng Cơ Ho cho giáo viên người Kinh công tác tại vùng đồng bào.
    • Về mặt quan điểm và chính sách: Thực hiện đồng bộ chính sách bảo tồn tiếng mẹ đẻ song song với việc nâng cao năng lực ngôn ngữ quốc gia; đầu tư cơ sở vật chất và chế độ hỗ trợ cho học sinh, giáo viên vùng khó khăn (như địa bàn xã Gia Bắc).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

Theo công bố của tác giả trong văn bản, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở khu vực Nam Tây Nguyên khảo sát chuyên sâu về tình hình song ngữ giữa tiếng Cơ Ho và tiếng Việt, gắn liền với quá trình thụ đắc ngôn ngữ của học sinh dân tộc Cơ Ho.

Về mặt lý thuyết ngôn ngữ học xã hội, kết quả của luận án góp phần:

  • Kiểm chứng và làm sáng tỏ các lý thuyết về cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, hiện tượng tiếp xúc và phân công chức năng ngôn ngữ trong một cộng đồng đa dân tộc cụ thể tại địa bàn Nam Tây Nguyên.
  • Cung cấp mô hình khảo sát thực nghiệm kết hợp giữa tự đánh giá và bài kiểm tra kỹ năng chuẩn hóa trong việc đo lường năng lực song ngữ của người dân tộc thiểu số.
  • Vận dụng và kiểm chứng các lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ (đặc biệt là lý thuyết của Krashen về thụ đắc tự nhiên / học tập và Gardner & Lambert về vai trò của thái độ, động cơ) vào đối tượng học sinh dân tộc thiểu số học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp bức tranh dữ liệu thực địa chi tiết cho chính quyền các cấp tỉnh Lâm Đồng và huyện Di Linh về thực trạng năng lực, nhu cầu và thói quen sử dụng ngôn ngữ của đồng bào Cơ Ho.
  • Nhận diện những khó khăn cụ thể mà người Cơ Ho gặp phải khi sử dụng tiếng Việt (lỗi phát âm, từ vựng, viết đoạn văn) cũng như tình trạng mai một kỹ năng viết tiếng mẹ đẻ.
  • Làm rõ các yếu tố môi trường (gia đình, nhà trường, cộng đồng cư trú) chi phối tốc độ và hiệu quả thụ đắc tiếng Việt của học sinh Cơ Ho bậc trung học cơ sở.
  • Cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp các cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc tại địa phương xây dựng giải pháp dạy học tiếng Việt và chính sách bảo tồn tiếng Cơ Ho phù hợp với từng vùng cư trú đặc thù (vùng sâu biệt lập như Gia Bắc so với vùng ven thị trấn như Bảo Thuận, Tân Châu).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ theo những nội dung tác giả trình bày tại phần Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế về địa bàn và mẫu khảo sát: Do địa bàn tỉnh Lâm Đồng rộng lớn, địa hình đồi núi phức tạp và dân cư phân bố rải rác, luận án chưa thể tiến hành khảo sát toàn bộ các khu vực có người Cơ Ho sinh sống trên toàn tỉnh, mà phải giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa tại huyện Di Linh và cụ thể hóa tại 3 xã (Bảo Thuận, Gia Bắc, Tân Châu). Dù Di Linh là địa bàn tập trung đông người Cơ Ho nhất tỉnh, kết quả nghiên cứu chủ yếu phản ánh tình hình của nhóm phương ngữ Srê và các nhóm lân cận tại Di Linh, chưa bao quát toàn bộ các phương ngữ Cơ Ho khác sinh sống ở các địa phương lân cận trong tỉnh Lâm Đồng (như Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà).
  • Hạn chế về nhóm đối tượng thụ đắc: Nghiên cứu điển hình về quá trình thụ đắc ngôn ngữ mới chỉ thực hiện trên cỡ mẫu giới hạn gồm 15 trường hợp học sinh lớp 6 bậc trung học cơ sở, chưa khảo sát mở rộng sang các bậc học thấp hơn (mầm non, tiểu học) hoặc cao hơn (trung học phổ thông).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát tình hình song ngữ sang các huyện khác thuộc tỉnh Lâm Đồng có người Cơ Ho cư trú đan xen với các dân tộc thiểu số khác (như Mạ, Chu Ru, Mnông).
    • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu các biến thể ngữ âm, từ vựng giữa các nhóm phương ngữ Cơ Ho (Cơ Dòn, Nộp, Chil, Lát...) trong mối quan hệ tiếp xúc với tiếng Việt.
    • Mở rộng mẫu nghiên cứu thụ đắc ngôn ngữ theo lát cắt dọc (longitudinal study) theo dõi học sinh từ bậc mầm non qua tiểu học lên trung học cơ sở.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội: Luận án cung cấp khung phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng, hệ thống bảng hỏi, bài kiểm tra kỹ năng và bộ tiêu chí 3 thành tố để đo lường năng lực ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của người song ngữ.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách ngôn ngữ và chính sách dân tộc (Ban Dân tộc tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban Nhân dân các cấp): Dữ liệu phân tầng về thái độ và thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong luận án là căn cứ thực tế để đánh giá hiệu quả thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc và bảo tồn chữ viết dân tộc bản địa.
  • Đối với ngành giáo dục (Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng, các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường THCS vùng dân tộc): Các phát hiện ở Chương 4 và hệ thống giải pháp nâng cao năng lực thụ đắc tiếng Việt cung cấp tư liệu trực tiếp để xây dựng phương pháp giảng dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và chương trình dạy chữ viết Cơ Ho trong nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại những địa bàn cụ thể nào của tỉnh Lâm Đồng và dựa trên những đặc điểm dân cư gì? Luận án giới hạn địa bàn khảo sát tại huyện Di Linh (nơi có khoảng 60 nghìn người Cơ Ho sinh sống) và lựa chọn 3 xã có đặc điểm cư trú không đồng nhất: xã Bảo Thuận (cách thị trấn Di Linh 4 km, có 6.090 người Cơ Ho trên 7.022 dân số, chiếm 90-99% dân số, lưu giữ văn hóa truyền thống tốt); xã Gia Bắc (cách trung tâm huyện 40 km, nằm biệt lập giáp ranh Bình Thuận, có 2.978 người Cơ Ho trên 3.156 dân số, điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu nước sản xuất); xã Tân Châu (cách thị trấn 2 km, có Quốc lộ 28 chạy qua, có 8.071 người Cơ Ho trên 11.209 dân số, cư trú xen cài với người Kinh, kinh tế phát triển nhờ trồng cà phê).

  2. Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực ngôn ngữ của người Cơ Ho được luận án xác định gồm những thành tố nào? Tác giả xác định 3 tiêu chí: Tiêu chí 1 là đánh giá tự cảm nhận về ngôn ngữ qua 5 lựa chọn (ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ yêu quý nhất, ngôn ngữ cần thiết nhất, ngôn ngữ dễ học nhất, ngôn ngữ sử dụng nhiều nhất); Tiêu chí 2 là kiểm tra kỹ năng nghe – nói và đọc – viết qua 6 mức độ bằng bài kiểm tra chuẩn hóa (đọc to, trắc nghiệm từ vựng, trắc nghiệm đúng/sai hiểu văn bản, điền từ, viết đoạn văn giới thiệu gia đình, phỏng vấn trực tiếp); Tiêu chí 3 là khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ trong 4 môi trường giao tiếp xã hội (gia đình - hàng xóm, hành chính, kinh doanh buôn bán, giáo dục).

  3. Quy mô và cơ cấu mẫu khảo sát của luận án được phân bổ ra sao? Luận án sử dụng hai tập hợp mẫu:

  • Mẫu khảo sát định lượng (Chương 2 và 3): Gồm 300 cộng tác viên người Cơ Ho phân bổ đều tại 3 xã (Bảo Thuận: 100, Gia Bắc: 100, Tân Châu: 100), phân tầng theo 4 nhóm tuổi (01–18; 19–30; 31–60; trên 60), 2 nhóm giới tính (nam, nữ) và 3 khu vực cư trú.
  • Mẫu nghiên cứu điển hình định tính (Chương 4): Gồm 15 học sinh dân tộc Cơ Ho đang học lớp 6 tại 3 trường THCS (mỗi xã 5 em), có cha mẹ đều là người Cơ Ho, hoàn cảnh kinh tế tương đồng, phân bổ theo 4 mức học lực: 05 giỏi, 04 khá, 03 trung bình, 03 yếu.
  1. Nhóm phương ngữ Cơ Ho nào được chọn làm cơ sở nghiên cứu và biên soạn tài liệu chính thức trong luận án? Luận án xác định trên địa bàn huyện Di Linh có 3 nhóm phương ngữ sinh sống là Cơ Dòn, Srê và Nộp. Trong đó, phương ngữ Srê là nhóm đa số cư trú lâu đời gắn với canh tác lúa nước (tập trung tại các xã Bảo Thuận, Tân Châu, Đinh Lạc, Gung Ré). Nhóm Srê được xem là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói và văn hóa người Cơ Ho, và là cơ sở ngôn ngữ được tỉnh Lâm Đồng lựa chọn để biên soạn các giáo trình, từ điển và sách giáo khoa dạy tiếng Cơ Ho chính thức trên toàn tỉnh.

  2. Những cơ sở lý thuyết nào về thụ đắc ngôn ngữ được tác giả vận dụng để nghiên cứu học sinh Cơ Ho? Tác giả vận dụng mô hình 5 giả thiết trung tâm và sự phân biệt giữa thụ đắc tự nhiên và thụ đắc qua học tập của Krashen (1977, 1981); lý thuyết tâm lý xã hội học của Gardner và Lambert (1972, 1974) về vai trò quyết định của thái độ và động cơ học tập đối với ngôn ngữ thứ hai; mô hình tiếp biến văn hóa của Schumann (1978); cùng quan điểm hoạt động lời nói xã hội của Leontiev (1978) và trường phái Vygotsky.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Tình hình song ngữ Việt - Cơ Ho (nghiên cứu trường hợp tỉnh Lâm Đồng)" của tác giả Vũ Văn Toán là công trình ngôn ngữ học xã hội khảo sát thực chứng về cảnh huống song ngữ giữa tiếng dân tộc thiểu số và tiếng Việt tại khu vực Nam Tây Nguyên. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra xã hội học trên mẫu 300 người dân và nghiên cứu điển hình trên 15 học sinh trung học cơ sở, tác giả đã làm rõ thực trạng năng lực ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ, sự phân công chức năng giao tiếp và quá trình thụ đắc ngôn ngữ của người Cơ Ho tại huyện Di Linh. Các số liệu và giải pháp được đề xuất trong luận án tạo cơ sở khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách ngôn ngữ và đổi mới giáo dục ngôn ngữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng.