Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây ngô (Zea mays L.) thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo Gramineae, có nguồn gốc từ Trung Mỹ và là một trong những cây lương thực quan trọng hàng đầu trên toàn cầu. Bên cạnh vai trò cung cấp lương thực trực tiếp cho gần 1/3 dân số thế giới (đặc biệt tại các quốc gia như Mexico, Ấn Độ, Philippines và khu vực châu Phi), ngô còn là nguồn nguyên liệu chủ lực cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm (chiếm từ 60% đến 70% trong công thức thức ăn tinh) và chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Theo số liệu từ FAOSTAT (2014), sản lượng ngô toàn cầu năm 2013 đạt 1.016,4 triệu tấn trên diện tích 184,2 triệu ha.
Tại Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng thứ hai sau lúa nước với diện tích gieo trồng năm 2013 đạt 1,17 triệu ha, sản lượng khoảng 5,2 triệu tấn và năng suất bình quân 44,35 tạ/ha. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước (505,8 nghìn ha, chiếm 43,14% tổng diện tích), song năng suất chỉ đạt 37,6 tạ/ha do canh tác chủ yếu trên đất dốc và điều kiện thâm canh hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi ngày càng tăng (nước ta vẫn phải nhập khẩu gần 9.000 tấn ngô mỗi năm ở thời điểm nghiên cứu) trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp và tác động của biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm các giống ngô lai mới có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chống chịu tốt là yêu cầu cấp thiết.
Tỉnh Thái Nguyên mang đặc trưng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc với khí hậu mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường xuyên xảy ra thiếu nước đầu vụ. Khóa luận thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Tuyển chọn từ 1 đến 2 tổ hợp ngô lai mới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác vụ Xuân tại tỉnh Thái Nguyên.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm trong vụ Xuân 2015.
- Đánh giá đặc điểm hình thái và sinh lý (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá, chỉ số diện tích lá, tốc độ tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá).
- Xác định đặc tính chống chịu (chống đổ gãy qua đường kính gốc, rễ chân kiềng; mức độ gây hại của sâu đục thân Ostrinia nubilalis).
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai.
- So sánh, kết luận về khả năng thích ứng và đề xuất tổ hợp lai có triển vọng đưa vào khảo nghiệm sản xuất.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: 07 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo (ký hiệu: B29, B30, B31, B32, B34, B35, B36) và 01 giống ngô lai đối chứng DK 9901 của Công ty giống Monsanto.
- Không gian: Thí nghiệm đồng ruộng tiến hành tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (trên nền đất cát pha, vụ trước trồng ngô).
- Thời gian: Vụ Xuân năm 2015 (gieo hạt ngày 26/02/2015, theo dõi đến khi thu hoạch tháng 06/2015).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên lý thuyết ưu thế lai và di truyền chọn giống cây trồng, phân biệt rõ đặc tính di truyền giữa giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - nền di truyền rộng, sử dụng hiệu ứng gen cộng, thích ứng rộng nhưng tiềm năng năng suất giới hạn) và giống ngô lai (Maize Hybrid - nền di truyền hẹp, khai thác hiệu ứng trội và siêu trội, yêu cầu thâm canh cao, độ đồng đều cao, chỉ sử dụng ở đời $F_1$). Quá trình phát triển của cây ngô được phân chia thành hai giai đoạn sinh lý chính: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng ($V$ - Vegetative, từ mọc mầm $V_e$ đến trỗ cờ $V_t$) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực ($R$ - Reproductive, từ phun râu $R_1$ đến chín sinh lý $R_6$).
Thí nghiệm được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56:2011/BNNPTNT) và hướng dẫn đánh giá giống ngô của Trung tâm Cải tiến Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT, 1985).
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) gồm 3 lần nhắc lại. Mỗi ô thí nghiệm có diện tích $14\text{ m}^2$ (chiều dài $5\text{ m}$, chiều rộng $2,8\text{ m}$), trồng 4 hàng. Toàn bộ các chỉ tiêu theo dõi được thu thập trên 2 hàng giữa của mỗi ô để loại trừ hiệu ứng viền.
- Quy trình kỹ thuật canh tác:
- Mật độ gieo trồng: 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách $70\text{ cm} \times 25\text{ cm} \times 1\text{ cây}$).
- Phân bón áp dụng cho 1 ha: 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh kết hợp lượng vô cơ nguyên chất $150\text{N} : 90\text{P}_2\text{O}_5 : 90\text{K}_2\text{O}$ (tương đương $321,89\text{ kg}$ Urê, $545,5\text{ kg}$ Supe lân, $150\text{ kg}$ Kaliclorua).
- Phương pháp bón: Bón lót toàn bộ phân vi sinh và phân lân; bón thúc lần 1 ($1/2\text{ N} + 1/2\text{ K}_2\text{O}$) khi cây 3–5 lá; bón thúc lần 2 ($1/2\text{ N} + 1/2\text{ K}_2\text{O}$) khi cây 7–9 lá kết hợp vun gốc chống đổ; bón thúc lần cuối trước trỗ cờ 10–15 ngày.
- Phương pháp xác định chỉ tiêu:
- Diện tích lá cá thể: Tính theo công thức $\text{Diện tích lá (m}^2) = \text{Chiều dài} \times \text{Chiều rộng} \times 0,75$.
- Chỉ số diện tích lá (LAI): $\text{LAI (m}^2\text{ lá/m}^2\text{ đất)} = \text{Diện tích lá/cây} \times \text{Số cây/m}^2$.
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Đo định kỳ 10 ngày/lần từ sau trồng 20 ngày đến 60 ngày trên 10 cây mẫu/ô.
- Khối lượng 1000 hạt ở độ ẩm tiêu chuẩn 14%:
$$M_{1000\text{ (14%)}} = \frac{M_{\text{hạt tươi}} \times (100 - A_0)}{100 - 14}$$
(trong đó $A_0$ là độ ẩm hạt khi thu hoạch đo bằng máy đo độ ẩm Kett 400 của Nhật Bản).
- Năng suất lý thuyết (NSLT):
$$\text{NSLT (tạ/ha)} = \frac{\text{Số cây/m}^2 \times \text{Số bắp/cây} \times \text{Số hàng/bắp} \times \text{Số hạt/hàng} \times M_{1000}}{10.000}$$
- Năng suất thực thu (NSTT):
$$\text{NSTT (tạ/ha)} = \frac{\text{Tỷ lệ hạt/bắp} \times M_{\hat{o}\text{ tươi}} \times (100 - A_0) \times 100}{S_{\hat{o}} \times (100 - 14)}$$
- Nguồn dữ liệu và xử lý thống kê: Thu thập số liệu diễn biến khí hậu, thời tiết vụ Xuân 2015 tại Thái Nguyên (nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa). Số liệu thực nghiệm được tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 và xử lý thống kê sinh học (phân tích phương sai ANOVA, kiểm định $LSD_{05}$, $CV%$, mức xác suất $P$) bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của cây ngô trên thế giới và ở Việt Nam. Khẳng định công tác chọn tạo và khảo nghiệm giống ngô lai là khâu then chốt nhằm nâng cao năng suất trong điều kiện đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp. Xác định mục đích tuyển chọn 1–2 tổ hợp lai mới ưu tú và đặt ra 5 yêu cầu kỹ thuật cần đạt trong quá trình theo dõi ngoài đồng ruộng tại Thái Nguyên.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp toàn diện các nghiên cứu về nguồn gốc, phân loại, lịch sử phát triển của cây ngô từ nghiên cứu của Vavilov (1926) đến các mốc thời gian hình thành ngô lai (Bill 1876, Shull 1909, Jones 1917, thành lập CIMMYT 1966). Phân tích tình hình sản xuất ngô thế giới giai đoạn 2011–2013 (năm 2013: Châu Mỹ đạt năng suất 73,9 tạ/ha, Châu Phi đạt 20,5 tạ/ha; Mỹ đạt sản lượng 353,7 triệu tấn; Israel đạt năng suất kỷ lục 225,6 tạ/ha). Trình bày tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 1961–2013 và cơ cấu năng suất vùng miền năm 2013 (Đông Nam Bộ đạt 57,6 tạ/ha; Sơn La đạt diện tích lớn nhất 162,8 nghìn ha nhưng năng suất chỉ 40,2 tạ/ha; An Giang đạt năng suất cao nhất 70,3 tạ/ha). Đánh giá biến động diện tích, năng suất, sản lượng ngô tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2002–2013 (năm 2013 diện tích đạt 19 nghìn ha, năng suất 42,6 tạ/ha, sản lượng 81 nghìn tấn) và chỉ ra các hạn chế trong nghiên cứu tạo giống ngô nội địa.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết 8 công thức thí nghiệm (7 tổ hợp lai B29 đến B36 và đối chứng DK 9901), đặc điểm địa bàn thực nghiệm tại phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên. Quy định chi tiết quy trình bón lót, bón thúc 3 lần, các biện pháp làm đất, chăm sóc định kỳ và các phương pháp thu thập chỉ tiêu sinh trưởng, hình thái, chống chịu sâu bệnh (theo thang điểm 1–5 đối với sâu đục thân), các công thức toán học xác định các yếu tố cấu thành năng suất và quy trình xử lý dữ liệu qua IRRISTAT 5.0.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Trình bày và phân tích các chỉ tiêu thực nghiệm qua 11 bảng số liệu và biểu đồ:
- Thời gian sinh trưởng: Các tổ hợp lai có thời gian từ gieo đến trỗ cờ dao động từ 61 đến 63 ngày; tung phấn từ 62 đến 64 ngày; phun râu từ 61 đến 64 ngày. Tất cả các tổ hợp lai đều trỗ cờ, tung phấn và phun râu sớm hơn giống đối chứng DK 9901 (trỗ cờ 65 ngày, tung phấn 65 ngày, phun râu 66 ngày). Khoảng cách tung phấn – phun râu ($TP - PR$) của các tổ hợp lai rất ngắn, dao động từ -1 đến 0 ngày, đảm bảo khả năng thụ phấn tốt.
- Đặc điểm hình thái và sinh lý: Chiều cao cây dao động từ 217,07 cm (B29) đến 251,77 cm (B36), không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với đối chứng DK 9901 (243,77 cm) ở mức $P > 0,05$. Chiều cao đóng bắp dao động từ 79,60 cm (B29) đến 119,07 cm (B30), thấp hơn có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$) so với đối chứng (126,83 cm). Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao thân dao động từ 36,67% đến 47,65% (đối chứng là 52,03%), giúp tăng cường độ vững chắc của thân cây. Số lá trên cây đạt từ 17,47 đến 20,20 lá. Chỉ số diện tích lá (LAI) đạt từ 3,28 đến 4,43 $\text{m}^2\text{ lá/m}^2\text{ đất}$ (cao nhất là B35 với 4,43, tương đương đối chứng 4,10 ở mức $P < 0,05$).
- Động thái tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây đạt đỉnh ở giai đoạn 30–40 ngày sau trồng (B36 đạt cao nhất với 7,8 cm/ngày; B32 thấp nhất với 6,1 cm/ngày). Tốc độ ra lá tăng nhanh từ sau 20 ngày và đạt mức cao ở giai đoạn 40–50 ngày sau trồng.
- Khả năng chống chịu: Đường kính gốc dao động từ 1,79 cm (B30) đến 1,99 cm (B35), sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa các giống. Số rễ chân kiềng đạt từ 11,30 rễ (B34) đến 15,57 rễ (B31), hầu hết tương đương đối chứng DK 9901 (13,93 rễ). Về sâu đục thân (Ostrinia nubilalis), tổ hợp B30 và B36 nhiễm nhẹ hơn ở điểm 4 (tỷ lệ hại 25 đến dưới 35%), trong khi các tổ hợp còn lại và đối chứng bị hại ở điểm 5 (35 đến 50%).
- Năng suất và các yếu tố cấu thành: Số bắp/cây dao động từ 0,97 đến 1,01 bắp/cây ($P > 0,05$). Chiều dài bắp dao động từ 15,61 cm (B34) đến 18,83 cm (B35). Đường kính bắp biến động từ 4,35 cm (B29) đến 4,88 cm (B32). Số hàng hạt/bắp đạt 12,47 đến 16,10 hàng (B32 cao nhất với 16,10 hàng, cao hơn đối chứng 14,73 hàng ở mức $P < 0,05$). Số hạt/hàng đạt từ 32,57 đến 37,07 hạt (B35 cao nhất trong các tổ hợp lai với 37,07 hạt). Khối lượng 1000 hạt đạt từ 289,4 g đến 376,9 g, trong đó B35 (376,9 g) và B36 (363,2 g) vượt trội hơn giống đối chứng DK 9901 (323,2 g) có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$, $LSD_{05} = 21,07\text{ g}$). Năng suất lý thuyết dao động từ 71,70 tạ/ha (B29) đến 110,86 tạ/ha.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tổng hợp các đánh giá sinh trưởng, chỉ rõ tổ hợp lai có triển vọng nhất và đề xuất tiếp tục đưa vào khảo nghiệm sản xuất ở các vụ tiếp theo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Kết quả và đóng góp
| Chỉ tiêu nông sinh học và năng suất |
B29 |
B30 |
B31 |
B32 |
B34 |
B35 |
B36 |
DK 9901 (đ/c) |
$LSD_{05}$ |
$CV (%)$ |
| Thời gian gieo - trỗ cờ (ngày) |
61 |
63 |
62 |
62 |
62 |
62 |
62 |
65 |
- |
- |
| Thời gian gieo - phun râu (ngày) |
61 |
64 |
64 |
63 |
62 |
64 |
63 |
66 |
- |
- |
| Chiều cao cây (cm) |
217,07 |
249,90 |
227,87 |
226,10 |
218,80 |
225,33 |
251,77 |
243,77 |
26,45 |
6,5 |
| Chiều cao đóng bắp (cm) |
79,60 |
119,07 |
105,17 |
96,60 |
92,10 |
103,70 |
108,57 |
126,83 |
14,47 |
8,0 |
| Tỷ lệ cao đóng bắp/cao cây (%) |
36,67 |
47,65 |
46,15 |
42,72 |
42,09 |
46,02 |
43,12 |
52,03 |
- |
- |
| Số lá trên cây (lá) |
17,47 |
19,57 |
20,20 |
18,13 |
18,03 |
19,20 |
19,03 |
20,43 |
0,88 |
4,3 |
| Chỉ số diện tích lá - LAI ($\text{m}^2/\text{m}^2$) |
3,57 |
4,15 |
4,16 |
3,63 |
3,28 |
4,43 |
4,11 |
4,10 |
0,29 |
2,7 |
| Đường kính gốc (cm) |
1,88 |
1,79 |
1,88 |
1,94 |
1,82 |
1,99 |
1,98 |
1,85 |
0,14 |
4,2 |
| Số rễ chân kiềng (rễ) |
14,60 |
14,43 |
15,57 |
12,20 |
11,30 |
14,90 |
13,30 |
13,93 |
2,22 |
9,2 |
| Điểm nhiễm sâu đục thân (1-5) |
5 |
4 |
5 |
5 |
5 |
5 |
4 |
5 |
- |
- |
| Chiều dài bắp (cm) |
15,92 |
17,35 |
17,09 |
16,02 |
15,61 |
18,83 |
17,79 |
17,76 |
0,90 |
3,0 |
| Đường kính bắp (cm) |
4,35 |
4,66 |
4,55 |
4,88 |
4,50 |
4,75 |
4,54 |
4,64 |
0,23 |
2,9 |
| Số hàng hạt/bắp (hàng) |
12,47 |
15,07 |
14,40 |
16,10 |
13,07 |
13,40 |
14,20 |
14,73 |
1,11 |
4,5 |
| Số hạt/hàng (hạt) |
35,87 |
35,70 |
35,33 |
32,57 |
34,13 |
37,07 |
35,03 |
38,37 |
2,31 |
3,7 |
| Khối lượng 1000 hạt (g) |
289,4 |
325,5 |
319,5 |
325,9 |
298,2 |
376,9 |
363,2 |
323,2 |
21,07 |
3,7 |
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Phát hiện tổ hợp lai triển vọng: Khóa luận xác định được tổ hợp lai B35 có nhiều ưu thế vượt trội về hình thái và yếu tố cấu thành năng suất: chỉ số diện tích lá cao nhất ($4,43\text{ m}^2/\text{m}^2$), chiều dài bắp lớn nhất ($18,83\text{ cm}$), khối lượng 1000 hạt cao nhất ($376,9\text{ g}$, vượt đối chứng $53,7\text{ g}$ ở mức sai khác có ý nghĩa). Tổ hợp lai B36 và B30 có ưu điểm nổi bật về khả năng chống chịu sâu đục thân (điểm 4, thấp hơn mức điểm 5 của đối chứng) cùng khối lượng hạt cao (B36 đạt $363,2\text{ g}$).
- Khả năng chống đổ ngã: Toàn bộ 7 tổ hợp lai mới đều có vị trí đóng bắp thấp hơn so với giống đối chứng DK 9901 (tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây từ 36,67% đến 47,65% so với 52,03% của đối chứng), giúp giảm nguy cơ gãy đổ thân trong điều kiện gió bão tại vùng đồi núi.
- Giải pháp kỹ thuật kiến nghị: Tiếp tục đưa các tổ hợp ngô lai ưu tú (đặc biệt là B35 và B36) vào hệ thống khảo nghiệm sản xuất diện rộng ở các vụ tiếp theo, kết hợp hoàn thiện gói kỹ thuật thâm canh về mật độ và phân bón nhằm khai thác tối đa tiềm năng năng suất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu mới được tiến hành trong phạm vi 01 vụ gieo trồng (vụ Xuân năm 2015) và tại 01 địa điểm cố định (phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên), chưa theo dõi lặp lại qua nhiều vụ trong năm (như vụ Thu Đông hoặc vụ Đông) để đánh giá độ ổn định di truyền của giống.
- Điều kiện thời tiết vụ Xuân 2015 tại điểm nghiên cứu ít mưa bão lớn, do đó việc đánh giá tính chống đổ chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu gián tiếp (đường kính gốc, số rễ chân kiềng, tỷ lệ cao đóng bắp) mà chưa kiểm chứng được phản ứng thực tế trước áp lực gió lốc mạnh ngoài đồng ruộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo nghiệm các tổ hợp lai có triển vọng (B35, B36, B30) tại nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Thái Nguyên và khu vực miền núi phía Bắc.
- Nghiên cứu bổ sung các biện pháp kỹ thuật canh tác chuyên biệt (mật độ gieo trồng tối ưu, liều lượng phân bón cân đối) cho từng tổ hợp lai triển vọng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Trồng trọt, Nông học, Chọn giống cây trồng và Bảo vệ thực vật làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận bố trí thí nghiệm đồng ruộng so sánh giống.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, các Trung tâm Khuyến nông và các cơ sở nghiên cứu chọn tạo giống ngô tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc.
- Nội dung giá trị:
- Quy trình thiết kế thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) chuẩn hóa theo quy chuẩn QCVN 01-56:2011/BNNPTNT và CIMMYT.
- Hệ thống công thức chi tiết xác định chỉ số diện tích lá (LAI), khối lượng 1000 hạt quy chuẩn độ ẩm 14%, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu.
- Bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hình thái, sinh lý và các yếu tố cấu thành năng suất của 7 dòng ngô lai mới từ Viện Nghiên cứu Ngô.
Câu hỏi thường gặp
1. Thí nghiệm so sánh bao nhiêu tổ hợp ngô lai và sử dụng giống đối chứng nào?
Thí nghiệm so sánh 07 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô cung cấp (ký hiệu: B29, B30, B31, B32, B34, B35, B36) với 01 giống đối chứng là DK 9901 của Công ty giống Monsanto.
2. Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây của các tổ hợp lai dao động như thế nào và có ý nghĩa gì?
Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao thân của các tổ hợp lai thí nghiệm dao động từ 36,67% (B29) đến 47,65% (B30), đều thấp hơn đáng kể so với giống đối chứng DK 9901 (52,03%). Vị trí đóng bắp thấp giúp hạ thấp trọng tâm của cây, tăng khả năng chống đổ ngã trước gió bão và địa hình dốc.
3. Tổ hợp lai nào có khối lượng 1000 hạt ($M_{1000}$) và chiều dài bắp lớn nhất?
Tổ hợp lai B35 đạt khối lượng 1000 hạt cao nhất là $376,9\text{ g}$ (vượt trội so với đối chứng DK 9901 đạt $323,2\text{ g}$ ở mức sai khác có ý nghĩa thống kê với $LSD_{05} = 21,07\text{ g}$) và có chiều dài bắp lớn nhất đạt $18,83\text{ cm}$ (đối chứng đạt $17,76\text{ cm}$).
4. Mức độ gây hại của sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) trên các giống thí nghiệm được ghi nhận ra sao?
Sâu đục thân gây hại ở mức điểm 4 đến điểm 5 (theo thang điểm 1–5 đánh giá ở giai đoạn chín sáp). Trong đó, tổ hợp B30 và B36 bị hại nhẹ hơn ở mức điểm 4 (tỷ lệ 25 đến dưới 35% số cây bị hại), còn các tổ hợp B29, B31, B32, B34, B35 và đối chứng DK 9901 bị nhiễm ở mức điểm 5 (tỷ lệ 35 đến 50%).
5. Mật độ gieo trồng và liều lượng phân bón được áp dụng trong thí nghiệm như thế nào?
Thí nghiệm áp dụng mật độ 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách $70\text{ cm} \times 25\text{ cm} \times 1\text{ cây}$). Lượng phân bón cho 1 ha gồm 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh và phân vô cơ theo tỷ lệ $150\text{N} : 90\text{P}_2\text{O}_5 : 90\text{K}_2\text{O}$ (tương đương $321,89\text{ kg}$ Urê, $545,5\text{ kg}$ Supe lân, $150\text{ kg}$ Kaliclorua/ha).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Văn Minh đã thực hiện đánh giá thực nghiệm hoàn chỉnh về sinh trưởng, phát triển, đặc tính chống chịu và các yếu tố cấu thành năng suất của 7 tổ hợp ngô lai mới vụ Xuân 2015 tại Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác định các tổ hợp lai đều có thời gian sinh trưởng ngắn hơn đối chứng, vị trí đóng bắp thấp tăng khả năng chống đổ, trong đó nổi bật là tổ hợp B35 với ưu thế vượt trội về chiều dài bắp và khối lượng 1000 hạt, cùng tổ hợp B36 và B30 có tính chống chịu sâu đục thân tốt hơn. Đây là nguồn dữ liệu thực nghiệm quan trọng làm cơ sở khoa học để tuyển chọn giống ngô lai ưu tú bổ sung vào cơ cấu mùa vụ tại địa phương.