ĐẶT VẤN ĐỀ Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã từng bước thay đổi và phát triển tương đối toàn diện. Trong chăn nuôi, đàn gia súc trên cả nước có chiều hướng tăng trưởng với tốc độ nhanh, đặc biệt đàn bũ cú những bước tiến vượt bậc. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì năm 1995 cả nước có 3.638,9 nghìn con bò và 2.962,8 nghìn con trâu; năm 2010 số lượng đàn bò tăng lên và đạt 5916,3 nghìn con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 278,9 nghìn tấn. Riêng đàn trâu, do phần lớn cỏc khõu làm đất trong sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hóa nên số lượng đàn trâu năm 2010 giảm xuống còn 2913,4 nghìn con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 84,2 nghìn tấn; tổng giá trị sản xuất của chăn nuôi trâu bò (theo giá cố định năm 1994) đạt 23.
Nhờ có sự tăng trưởng của đàn gia súc, gia cầm, sản phẩm chăn nuôi đã đáp ứng được nhu cầu thực phẩm trong nước và phục vụ xuất khẩu. Vai trò làm sức kéo và phục vụ sản xuất nông nghiệp không còn nhiều, chăn nuôi trâu ngày nay chủ yếu với mục đích hàng hoá với số lượng ít nên công tác phòng bệnh chưa được quan tâm đầy đủ, đặc biệt là một số bệnh do ký sinh trùng gây nên, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và năng suất chăn nuôi trâu. Trong các bệnh do ký sinh trùng gây nên ở trâu phải kể đến là bệnh sán lá gan lớn do Fasciola spp. Đây là bệnh xảy ra khá phổ biến ở trâu bò nuôi thả và thường ở thể mãn tính nên chỉ làm cho con vật gầy yếu, chậm lớn, chính vì vậy người chăn nuôi thường khó phát hiện được bệnh và vì thế ít quan tâm đến việc phòng bệnh.
Bệnh có ở khắp nơi trên thế giới. Riêng nước ta, bệnh được phát hiện khắp các tỉnh thành từ phía Bắc đến phía Nam. Tỷ lệ trâu bò nhiễm bệnh ở miền núi khoảng 30 – 35 %, vùng đồng bằng là 40 – 70 %. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Thú y 1 Báo cáo thạc sỹ Nguyễn Văn Hoãn – TY18B Bệnh còn đặc biệt nguy hiểm do có thể lây sang người qua đường tiêu hóa.
Sán lá gan lớn đẻ trứng rồi trứng theo phân ra ngoài môi trường và cuối cùng phát triờ̉n thành nang ấu, bám chắc trên rau cỏ, ở trong nguồn nước mương, ao, kênh, rạch. Nhiều người nhiễm bệnh do ăn rau sống hay do uống nước sông, suối, ao hồ. Nang ấu khi vào cơ thể người sẽ được giải phóng, nó đi khắp cơ thể và đích đến là gan. Chúng đi xuyên qua mạch máu, vào ổ bụng, từ ổ bụng sán xuyên qua bao gan để vào gan sinh sống làm tổn thương nhu mô gan, có thể gây những ổ hoại tử lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người.
Sán lá gan lớn có thể sống ký sinh trong cơ thể người từ 9 – 13 năm. Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I cấp quốc gia, có hệ thống giao thông thủy bộ thông thương với nhiều tỉnh thành trong cả nước và các quốc gia trên thế giới. Dân số năm 2010 khoảng 2 triệu người cộng với một lượng lớn khách du lịch đến Hải Phòng hàng năm, vì vậy nhu cầu về thực phẩm thịt và thực phẩm có nguồn gốc từ thịt là rất lớn. Theo số liệu thống kê 01/10/2010 tổng đàn trâu của thành phố là 8.889 con, sản lượng thịt hơi sản xuất đạt 680,9 tấn, chiếm 0,7% sản lượng thịt.
Do thịt trõu cũn chiếm một tỷ lệ thấp và số đầu con không nhiều trong tổng đàn gia súc, gia cầm của thành phố nên công tác chăm sóc và phòng trừ các bệnh do ký sinh trùng nói chung và bệnh do sán lá gan lớn nói riêng cho đối tượng vật nuôi này chưa được quan tâm đúng mức. Thực tế trong nhiều năm qua, các cơ quan chức năng của Hải Phòng chưa có một đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hoặc một chương trình dự án cụ thể nào dành cho việc điều tra, đánh giá mức độ nhiễm bệnh sán lá gan lớn trên đàn trâu bũ nuôi trên địa bàn Hải Phòng để khuyến cáo người chăn nuôi về tác hại của bệnh và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sức khoẻ người tiêu dùng. Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu tại Hải Phòng và nghiờn cứu một số đặc điểm bệnh lý của trâu nhiễm sán”. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Thú y 2 Báo cáo thạc sỹ Nguyễn Văn Hoãn – TY18B 1.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Đánh giá được tình hình nhiễm Sán lá gan lớn ở đàn trâu trên địa bàn thành phố Hải Phòng - Làm rõ một số đặc điểm bệnh lý của trâu bị nhiễm Sán lá gan lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng; 1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Kết quả nghiên cứu góp phần vào công tác chẩn đoán phát hiện nguyên nhân gây bệnh ký sinh trùng trên gia súc nuụi trờn địa bàn Hải Phòng, đồng thời là cơ sở cho việc chỉ đạo sản xuất và trong công tác quản lý nhà nước của ngành chăn nuôi thú y thành phố Hải Phòng trong những năm tiếp theo. - Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và lý luận cho việc nghiên cứu và đánh giá những tác động của bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa vật nuôi và con người. - Xây dựng được các biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan phù hợp trên đàn trâu nuụi trên địa bàn Hải Phòng.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Thú y 3 Báo cáo thạc sỹ Nguyễn Văn Hoãn – TY18B 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. SÁN LÁ FASCIOLA VÀ BỆNH DO FASCIOLA GÂY RA Ở TRÂU BÒ 2. Vị trí phân loại sán lá gan lớn Theo Skrjabin và cs.
(1997), Nguyễn Thị Lê và cs. Các loài sán lá gan lớn Trên thế giới, sán lá gan lớn gây bệnh cho các loài nhai lại nói chung và trâu bò nói riêng gồm 2 loại sau đây: + Fasciola hepatica: Chủ yếu phân bố ở châu Âu, châu Mỹ, Đông Nam châu Phi và Nhật Bản. + Fasciola gigantica: Có ở châu Phi, Đông Nam Á, Ấn Độ và khu vực quần đảo Hawaii 2. Đặc điểm hình thái học của sán lá gan lớn Sán lá gan có dạng dẹt, hỡnh lỏ, màu hồng nhạt.
Đối với loài F.hepatica (Linnaeus, 1758) có thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước tạo “vai” giả, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Thú y 4 Báo cáo thạc sỹ Nguyễn Văn Hoãn – TY18B chiều dài sán là 18-51mm, rộng 4-13mm, hai rỡa bờn thõn sỏn khụng song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thõn.gigantica (Linnaeus, 1758) lại có kích thước lớn hơn, chiều dài gấp 3 lần chiều rộng, sán dài từ 25-75mm, rộng từ 3-12mm, hai cạnh bên của cơ thể sán gần như song song, đầu cuối của thõn tự, giỏc bụng tròn lồi ra, không có vai giả như F. Cấu tạo bên trong sán lá gan lớn bao gồm: + Hệ tiêu hóa: Kém phát triển gồm hai giỏc bỏm đó là giác miệng và giác bụng, trong đó giác bụng có kích thước lớn hơn giác miệng. Lỗ miệng nằm ngay giác miệng, tiếp đến là hầu và thực quản. Hai nhánh ruột nằm dọc hai bên thân của cơ thể tạo thành khung và phân nhánh, do ruột không có lỗ thoỏt nờn được gọi là ruột tịt hay manh tràng.
Sán lá gan lớn không có lỗ hậu môn do vậy mà toàn bộ sản phẩm cặn bã của quá trình trao đổi chất ra ngoài qua lỗ miệng. + Hệ bài tiết: Rất kém phát triển bao gồm một số tế bào ngọn lửa nằm rải rác ở hai bên cơ thể để thu nhận sản phẩm bài tiết sau đó được đổ vào hai ống nhỏ và cuối cùng lại đổ dồn vào lỗ bài tiết chung. + Hệ thần kinh: Kém phát triển gồm 2 hạch thần kinh ở phần đầu sán, từ đó phát ra 3 dây thần kinh đi về phía sau cơ thể. + Do đời sống ký sinh nên hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ vận động tiêu giảm + Hệ sinh dục: Lưỡng tớnh, trên cơ thể sán lá gan lớn có cả bộ phận sinh dục đực và cái - Bộ phận sinh dục đực: Lỗ sinh dục đực nằm ngay cạnh giác bụng, hai tinh hoàn có cấu trúc phân nhánh xếp trên dưới nhau, tinh hoàn là nơi sản sinh ra tinh trùng.
Mỗi tinh hoàn có một ống dẫn tinh riêng, cuối cùng 2 ống dẫn tinh này chập làm một thành ống dẫn tinh chung, phía cuối của ống dẫn tinh chung được biệt hóa tạo thành một lò xo bao bọc gọi là Cirrus. - Bộ phận sinh dục cái: Bao gồm túi trứng (Ootype) có kích thước nhỏ, tròn, nằm giữa cơ thể và là nơi để trứng gặp tinh trùng, túi trứng được thông ra Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Thú y 5 Báo cáo thạc sỹ Nguyễn Văn Hoãn – TY18B buồng trứng, buồng trứng có dạng hình hoa, phân nhánh. Ngoài ra trên cơ quan sinh dục cỏi cũn cú bộ phận dự trữ tinh trùng hoặc tinh dịch thừa sau khi thụ tinh được gọi là túi chứa tinh. Trứng sán được thải ra ngoài thuận lợi và gắn kết với nhau là nhờ có chất dịch do thể Mellis tiết ra, chất dịch này còn có tác dụng bôi trơn tử cung.
Tuyến noãn hoàng phân hai nhánh nằm dọc hai bên cơ thể thành chùm, tuyến này sản sinh các chất dinh dưỡng nuôi trứng. Tử cung của sán lá có dạng hình ống rất dài một đầu của tử cung nối với túi trứng, một đầu nối với lỗ sinh dục cái nằm ngay lỗ sinh dục đực, tử cung chứa trứng đã được thụ tinh, trứng này qua lỗ sinh dục cái thải ra môi trường ngoài. Vì sán lá gan lưỡng tính nên quá trình sinh sản xảy ra rất đơn giản, cụ thể theo 2 phương thức tự thụ tinh (xảy ra giữa bộ phận sinh dục đực và cái trên cùng một cơ thể) và thụ tinh chéo (xảy ra giữa cơ quan sinh dục của sán này với cơ quan sinh dục khác của sỏn khỏc). Sau khi thụ tinh sẽ phát triển thành trứng, trứng sán lá gan lớn hình bầu dục, phình ở giữa, thon đều về hai đầu, có kích thước lớn với đường kính lớn là 0,13-0,15mm, đường kính nhỏ là 0,07- 0,09mm, trứng có nắp trứng và được cấu tạo bởi 4 lớp vỏ, 3 lớp ngoài cùng bảo vệ trứng về mặt cơ học, lớp thứ 4 bảo vệ về mặt hóa học.
Lớp vỏ ngoài cựng luụn trong suốt không nhận thấy được, lớp thứ 2 có màu vàng thẫm do màu của dịch mật, lớp thứ 3 dớnh sỏt với lớp thứ 4.