ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nghành chăn nuôi hiện nay, chăn nuôi lợn là một trong các ngành đem lại hiệu quả kinh tế, chính vì vậy trong những năm qua, chăn nuôi lợn nước ta đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hoá sản xuất, chăn nuôi trong các trang trại tập trung càng phổ biến. Tuy nhiên trong chăn nuôi muốn thu được lợi nhuận cao ngoài các vấn đề về con giống, dinh dưỡng thì thú y là vấn đề cấp bách, quyết định thành công trong chăn nuôi. Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi là bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis). Bệnh này phát triển mạnh, đặc biệt ở các vùng chăn nuôi lợn tập trung.
Nếu không được quan tâm chăm sóc, hộ lý tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên tới 100% và tỷ lệ chết cũng rất cao, nhất ở giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, nhằm mục đích hiểu kỹ hơn về bệnh này, cũng như ảnh hưởng của nó tới chăn nuôi lợn, để tìm ra được giải pháp phòng chống hữu hiệu nhất, làm giảm thiệt hại đến mức nhỏ nhất của dịch bệnh và tăng năng suất của chăn nuôi lợn. Được sự đồng ý của cơ sở thực tập và dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Hà Thị Hảo em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoan sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Tân Thái - Đồng Hỷ - Thái Nguyên và so sánh hiệu quả của hai loại thuốc kháng sinh QM - Neolin, Enrofloxacin”. 16 * Mục tiêu nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại Tân Thái - Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
- Biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con. - Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của 2 loại thuốc kháng sinh QM - Neolin, và Enrofloxacin. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con. * Đặc điểm về sinh trưởng phát dục của lợn. Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ phát triển của bào thai mà phát triển tốt thì sự phát triển sau này cũng sẽ tốt. Theo Trần Văn Phùng và CS (2004)[20] sau sơ sinh lợn con tăng trọng nhanh, sinh trưởng với tốc độ cao, so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Theo Vũ Đình Tôn và CS (2006) [25], khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỉ lệ thuận với nhau khá chặt chẽ. Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan tới tỉ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỉ lệ sống đến cai sữa. Ở lợn ngoại khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg thì tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 75%. Trong khi khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc nhỏ hơn nữa chỉ sống sót hơn 2% khi cai sữa.
Thời kỳ này chủ yếu là sự thành thục của cơ quan sinh dục đực nên cần phải tiến hành thiến Theo Lê Hồng Mận và CS (2004)[9], lợn con lúc bú sữa sinh trưởng 17 nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm xuống. Điều này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin giảm. Thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng lợn con. Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách cho lợn tập ăn sớm và bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14 g protein/kg khối lượng.
Trong khi đó, lợn lớn chỉ tích luỹ được 0,3- 0,4 g protein/kg khối lượng. Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn. Mặt khác, ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính. Vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành.
Theo Nguyễn Khánh Quắc và CS (1993)[24] cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lượng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi. Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định. Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương.
Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21- 56 ngày tuổi giảm không đáng kể. * Đặc điểm về cơ quan tiêu hóa Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Sự phát triển thể hiện sự tăng nhanh dung tích dạ dày, ruột non, ruột già. Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần so với lúc sơ sinh.
Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa xellulozơ khá cao trong thức ăn bổ sung. Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi. 18 Mặc dù sinh trưởng nhanh nhưng các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Vì vậy, lợn con phản ứng chậm với các yếu tố tác động lên chúng.
Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa. Do một số men tiêu hóa thức ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như Pepsin, Amilaza, Maltaza. Nhìn chung, Lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các chất bổ sung kém (Trần Văn Phùng và CS (2004) [20]). - Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày Theo Phan Đình Thắm, (1995)[37] lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do.
Lúc này lượng axit nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là Hypoclohydric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con. Trong dịch vị của lợn con mới đẻ trong khoảng 20 - 25 ngày thiếu HCl. Lợn con 3 - 4 tuần tuổi thì dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng HCl tiết ra ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch dạ dày.
Hiện tượng thiếu HCl này là đặc điểm quan trọng trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày. Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày tuổi có pH 2,8; ở 10 ngày tuổi có pH 2,8 - 3,1; ở 12 ngày tuổi có pH 2,7; ở 20 ngày tuổi có pH 2,4 - 2,7. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hóa ở lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy. Cũng do thiếu HCl tự do trong giai đoạn này nên men Pepsin không hoạt động, khả năng tiêu hóa thuộc về men Lipaza và Kimuzin.
Hai men này tăng dần từ lúc sơ sinh đến 3 tuần tuổi sau đó giảm dần. Sức tiêu hóa của dịch vị tăng dần theo tuổi một cách rõ rệt. Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh nhất, dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu hóa nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl.
Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa. Việc cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triến 19 nhanh và sớm hoàn thiện, vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào thành dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị. Theo Trần Văn Phùng và CS (2003) [20], dịch tụy có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiêu hóa.
Nó phân giải từ 60 - 80% protein, gluxit và lipit trong thức ăn. Dịch tụy bao gồm các bicacbonat và chứa các enzyme giúp cho quá trình tiêu hóa tinh bột, protein, chất béo…Các enzyme đó là Trypsine, Cacboxypeptiaza, Elactaza, Dipeptitaza, Protaminaza, Nucleaza… Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng thức dịch tụy phân tiết trong một ngày là 150 - 300ml. Sự phân tiết dịch tụy tăng theo tuổi: Ở 40 ngày tuổi là 460ml, 3 tháng tuổi là 3 - 5 lít và 7 tháng tuổi là 10 lít. Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hóa kém của dạ dày.
Dịch mật do tuyến mật tiết ra, một ngày đêm lợn tiết khoảng 2,4 - 3,8 lít dịch mật. Dịch mật làm giảm sức căng bề mặt ngoài của dung dịch và làm nhũ hóa mỡ, ở dạng này mỡ dễ bị tác động của Lipaza. - Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở ruột Theo Nguyễn Như Pho, (1999)[18] cho biết: Phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu hóa được protein của gạo, bột cá. Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra.
Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày. Trong thành phần của dịch ruột chứa các men tiêu hóa như: Aminopeptidaza, Dipeptidaza, Mantaza, Lactaza và Enterokinaza (men này có tác dụng hoạt hóa men Trypsin ở dạng không hoạt động (Trypsinnogen)). Các men này đều tham gia tích cực vào quá trình tiêu hóa thức ăn. Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chưa triệt để.