Mở đầu Chƣơng 2: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 3: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 3 C ƢƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu Dựa theo mục đích nghiên cứu mà đề tài tập trung phân tích những yếu tố tiêu biển liên quan đến tình trạng xâm nhập mặn ở Bến Tre trong thời điểm hiện tại 2. Vị trí địa lý Bến Tre nằm ở phía Đông vùng đồng bằng Sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.356,85 km², chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL.Về tọa độ địa lý, tỉnh Bến Tre nằm trong giới hạn từ 9o48' đến 10o20' vĩ độ Bắc và từ 106o48' đến 105o57' kinh độ Đông. (Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre - https://bentre.vn/) Bến Tre có ranh giới hành chính nhƣ sau: - Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang.
- Phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh. - Phía Đông giáp biển Đông với đƣờng bờ biển dài trên 65 km. 1: Vị trí địa lý tỉnh Bến Tre (Nguồn: http://bentre.net/) Bến Tre là một tỉnh đồng bằng, nằm ở hạ lƣu hệ thống sông Mekông và tiếp giáp với biển Đông. Tỉnh Bến Tre có các sông chạy dọc theo chiều dài tỉnh gồm: sông 4 Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên có tổng chiều dài 298 km, các sông phân bố nhƣ các nan quạt xòe rộng ra biển Đông chia địa hình của tỉnh thành 3 cù lao lớn: cù lao An Hóa (gồm 2 huyện Châu Thành và Bình Đại) cù lao Bảo (gồm Thị xã và 2 huyện Giồng Trôm, Ba Tri), cù lao Minh (gồm 3 huyện Chợ Lách, Mỏ Cày và Thạnh Phú).
Diện tích tự nhiên là 2.356,85 km²; chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL. Địa hình Nhìn chung, địa hình tỉnh Bến Tre tƣơng đối bằng phẳng, cao độ bình quân 1 - 2 m, có khuynh hƣớng thấp dần theo hƣớng Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng ra phía biển Đông. Bốn bề tỉnh Bến Tre là sông nƣớc bao bọc, bên trong có hệ thống sông rạch chằng chịt làm cho địa hình bị chia cắt mạnh. Tỉnh Bến Tre có hình dáng nhƣ tam giác cân, có đỉnh nằm ở phía thƣợng nguồn các con sông, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông.
Các con sông lớn: sông Mỹ Tho (sông Tiền Giang), sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên nhƣ các nan quạt xòe rộng ra biển Đông, chia địa hình của tỉnh ra làm 3 cù lao lớn: cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Cục bộ địa hình có những cồn cát phân bố thành tuyến, hình cánh cung, nằm ở ven biển. Các giồng cát cao hơn địa hình xung quanh từ 1 – 5 m. Rải rác có những cồn cát xen kẽ với ruộng vƣờn, không có rừng cây lớn.
Về cơ bản có thể chia địa hình tỉnh Bến Tre ra làm 3 dạng địa hình: - Vùng địa hình thấp có độ cao dƣới 1m: bị ngập nƣớc khi triều lên, bao gồm một số đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh. - Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1 – 2 m: là vùng đất ngập trung bình hoặc ít ngập theo triều, chỉ bị ngập khi triều cƣờng vào tháng 9 – 12, đã đƣợc nhân dân lên liếp làm vƣờn, đắp bờ sản xuất lúa. chiếm khoảng 87,5% diện tích toàn tỉnh. - Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2 – 3,5 m, có nơi cao trên 5 m (chiếm chừng 7% tổng diện tích): bao gồm các dải đất cao ven các con sông lớn từ Chợ Lách đến Châu Thành và phía Bắc – Tây Bắc của thị xã Bến Tre: các giồng cát tại khu vực ven biển, chiếm 5,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
5 Đƣờng bờ biển có khuynh hƣớng bồi thêm theo hƣớng Đông – Đông Nam tại các cửa sông Ba Lai và Cổ Chiên do tác động tổng hợp giữa các dòng hải lƣu ven bờ và phù sa sông đổ ra biển. Tốc độ bình quân lấn biển hàng năm là 9,25 km2. Chính vì những điều kiện địa hình và hệ thống sông rạch nhƣ trên đã tạo cho Bến Tre một chế độ thời tiết khí hậu và thủy hải văn có nét hơi khác biệt so với các tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm khí hậu Theo UBND tỉnh Bến Tre (2008), Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhƣng lại nằm ngoài ảnh hƣởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26oC – 27oC.
Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dƣới 200C. Hằng năm, mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần (16 tháng 4 và 27 tháng 7). Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hƣớng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt. Mùa gió Đông Bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió Tây Nam là thời kỳ mƣa ẩm.
Lƣợng mƣa trung bình hằng năm từ 1. Trong mùa khô, lƣợng mƣa vào khoảng 2 đến 6% tổng lƣợng mƣa cả năm. Mùa mƣa các nơi trong tỉnh Bến Tre kết thúc không giống nhau. Các vùng ven biển thƣờng bắt đầu chậm và kết thúc sớm hơn những nơi khác.
Trong mùa mƣa xen kẽ có nhiều ngày không mƣa. Số ngày mƣa thật sự trong mùa mƣa cũng không đồng đều trong toàn tỉnh (khoảng 50 – 60 ngày). Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng. Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát dục của cây trồng, vật nuôi.
Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thƣờng có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm. Trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa khô, lƣợng nƣớc từ thƣợng nguồn đổ về giảm nhiều và gió chƣớng mạnh đƣa nƣớc biển sâu vào nội địa, làm ảnh hƣởng đến năng suất cây trồng đối với các huyện gần phía biển và ven biển. Thủy văn Nƣớc ngọt của các sông chảy qua Bến Tre đƣợc cung cấp bởi nƣớc ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nƣớc chảy ngƣợc vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lƣợng nƣớc khoảng 80 m3.
(Nguồn: SIWRR, 2011) Song dòng chảy các sông ở tỉnh Bến Tre không đơn thuần do nƣớc từ thƣợng nguồn đổ về, mà còn do thủy triều biển Đông theo các cửa sông xâm nhập sâu vào trong đất liền, tạo nên dòng chảy khá phức tạp trong những con sông lớn, nhỏ của tỉnh. Bến Tre có chế độ biển triều Đông là chế độ bán nhật triều không đều. Hàng tháng có hai kỳ triều cƣờng (ngày 3 và 17 âm lịch) và hai kì triều kém (ngày 10 và 25 âm lịch). Thủy triều cao nhất trong năm vào tháng 10 (130 cm), tháng 11 (132 cm), chân triều bình quân cao nhất vào tháng 1 (-39 cm), thấp nhất vào tháng 6 (-154 cm), tháng 7 (164 cm) với biên độ triều cƣờng trong năm biến thiên từ 201 - 242 cm.
Đặc tính thổ nhưỡng Kết quả điều tra khảo sát đất đai ở do UBND tỉnh Bến Tre thực hiện năm 2010, thổ nhƣỡng Bến Tre bao gồm các đặc tính: Về số lƣợng: Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng nhƣ lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%. Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngƣ nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao. Về chất lƣợng: Kết quả điều tra khảo sát đất đai ở do UBND tỉnh Bến Tre thực hiện năm 2010 cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhƣng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hƣởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao 7 nhiều chất đối kháng.
Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lƣợng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể. Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lƣợng và chất lƣợng đất đôi khi chƣa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trƣởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên đƣợc, mặc dù đã tăng cƣờng lƣợng phân bón trong mỗi vụ.
Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lƣợng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dƣỡng chủ yếu, trong khi lƣợng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lƣợng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dƣỡng. Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mƣa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hƣớng xấu.
Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dƣỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ đƣợc môi trƣờng tự nhiên.