Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên hơn 4 triệu hecta cùng quy mô dân số trên 18 triệu người, đóng vai trò là vựa lương thực trọng yếu của cả nước. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và đời sống của hơn 11 triệu người dân trong vùng. Hiện nay, khoảng 1,7 triệu hecta đất tại khu vực này đã bị nhiễm mặn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 5 triệu dân cư sinh sống tại các tỉnh ven biển. Tỉnh Bến Tre với diện tích tự nhiên 2.356,85 km2 và hơn 65 km bờ biển là địa phương chịu tác động nặng nề nhất do 94,2% diện tích nằm trong vùng ảnh hưởng triều. Trong các đợt hạn mặn cực đoan, ranh mặn 4 phần nghìn đã xâm nhập sâu tới 60 km vào nội đồng qua các cửa sông lớn như sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Điển hình trong mùa khô giai đoạn 2019-2020, thiệt hại do hạn mặn tại Bến Tre ước tính gần 1.660 tỷ đồng, làm hư hại 27.985 hecta cây ăn quả và 3.097 hecta diện tích nuôi trồng thủy sản.

Trước bối cảnh tài nguyên nước ngọt suy giảm gay gắt, việc nghiên cứu tính chống chịu của các mô hình sinh kế nông nghiệp trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Đề tài tập trung đánh giá toàn diện năng lực chống chịu với xâm nhập mặn của 4 mô hình sinh kế tiêu biểu gồm trồng lúa, trồng dừa, nuôi tôm công nghiệp và luân canh tôm - lúa. Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai tại 3 huyện ven biển trọng điểm là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú trong mốc thời gian từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020. Ý nghĩa khoa học của công trình là xác lập cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nguồn vốn sinh kế và năng lực thích ứng của nông hộ. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ số định lượng giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy hoạch chuyển đổi nông nghiệp bền vững, hỗ trợ cộng đồng nông thôn thích ứng an toàn trước diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh ban hành năm 1999 làm nền tảng phân tích cốt lõi. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh kế nông hộ thông qua 5 nguồn vốn cơ bản gồm vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết về khả năng chống chịu sinh kế được phát triển bởi các nhà khoa học quốc tế vào các năm 2002 và 2015, nhấn mạnh khả năng duy trì, phục hồi và cải thiện cấu trúc hoạt động của hệ thống kinh tế hộ trước các cú sốc môi trường.

Để đo lường nhận thức và phản ứng thực tế của cộng đồng, phương pháp đánh giá tính chống chịu chủ quan được đưa vào áp dụng dựa trên các nghiên cứu tiêu biểu công bố năm 2016 và 2018. Khung phân tích tập trung vào 3 khái niệm trọng tâm:

  1. Tính chống chịu đề kháng: Khả năng duy trì sản xuất và chống đỡ thiệt hại của mô hình sinh kế trong thời điểm diễn ra đợt mặn lịch sử.
  2. Tính chống chịu thích nghi: Năng lực tự điều chỉnh, bố trí mùa vụ và ứng phó linh hoạt khi độ mặn tăng cao hoặc kéo dài.
  3. Tính chống chịu chuyển đổi: Khả năng học hỏi kỹ thuật mới, đa dạng hóa thu nhập hoặc chuyển đổi sang mô hình sản xuất khác phù hợp với bối cảnh sinh thái mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre, Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre năm 2016 và báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa bằng bảng hỏi cấu trúc từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2020.

Quy mô mẫu khảo sát gồm 174 nông hộ canh tác 4 mô hình sinh kế nông nghiệp chủ lực tại 3 huyện ven biển:

  • Mô hình trồng dừa: Khảo sát 50 hộ tại xã Thới Thạnh và Tân Phong thuộc huyện Thạnh Phú, chiếm tỷ lệ 29% tổng mẫu.
  • Mô hình trồng lúa: Khảo sát 18 hộ tại xã Tân Xuân thuộc huyện Ba Tri, chiếm tỷ lệ 10% tổng mẫu.
  • Mô hình nuôi tôm công nghiệp: Khảo sát 41 hộ tại xã An Nhơn thuộc huyện Thạnh Phú và xã Định Trung thuộc huyện Bình Đại, chiếm tỷ lệ 24% tổng mẫu.
  • Mô hình luân canh tôm - lúa: Khảo sát 65 hộ tại xã An Nhơn thuộc huyện Thạnh Phú và xã Thạnh Phước thuộc huyện Bình Đại, chiếm tỷ lệ 37% tổng mẫu.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có điều kiện được áp dụng nhằm đảm bảo các nông hộ tham gia phỏng vấn đều trực tiếp chịu tác động của xâm nhập mặn và đại diện cho các vùng sinh thái thủy văn đặc thù. Về phân tích định lượng, đề tài sử dụng phương pháp Phân tích thành phần chính viết tắt là PCA. Lý do lựa chọn PCA là khả năng giảm thiểu số chiều của tập dữ liệu phức tạp gồm 15 chỉ tiêu sinh kế và năng lực chống chịu ban đầu xuống thành 6 thành phần chính độc lập. Kỹ thuật này giúp triệt tiêu hiện tượng đa cộng tuyến, loại bỏ nhiễu thống kê và bảo toàn hơn 70% tổng phương sai giải thích của tập mẫu, từ đó phản ánh khách quan bức tranh sinh kế địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 174 nông hộ đã chỉ ra những khác biệt rõ rệt về cấu trúc nguồn vốn và tính chống chịu giữa các mô hình sản xuất:

Thứ nhất, về vốn con người và kinh nghiệm sản xuất, quy mô hộ gia đình trung bình dao động từ 3,80 đến 4,80 người, trong đó số người ở độ tuổi lao động là khoảng 3 người nhưng chỉ có 1,84 đến 2,50 người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp. Về kinh nghiệm, nông hộ trồng lúa có thâm niên canh tác cao nhất với trung bình 27,94 năm, có tới 66,67% số hộ đạt trên 25 năm kinh nghiệm. Nông hộ trồng dừa đạt thâm niên trung bình 20,46 năm và tôm - lúa là 20,41 năm. Ngược lại, mô hình tôm công nghiệp có thâm niên trung bình thấp nhất chỉ 9,65 năm với 53,66% số hộ có kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm. Tuy nhiên, mô hình tôm công nghiệp lại sở hữu tỷ lệ lao động có trình độ đại học đạt 7,32% và sau đại học đạt 2,44%, cao nhất trong tất cả các nhóm sinh kế.

Thứ hai, về vốn tài chính và dự phòng rủi ro, các mô hình trồng trọt truyền thống có sự chuẩn bị an toàn hơn thông qua hình thức nuôi gia súc gồm trâu, bò, dê. Tỷ lệ nông hộ có nuôi gia súc ở mô hình trồng lúa đạt 72%, mô hình trồng dừa đạt 66%, mô hình tôm - lúa đạt 57%, trong khi mô hình nuôi tôm công nghiệp chỉ đạt 24%. Tỷ lệ dự trữ tiền mặt tại gia đình của các mô hình đều ở mức cao, dao động từ 57% đến 78%. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ tham gia hình thức góp vốn xoay vòng phi chính thức như chơi hụi dao động từ 17% đến 39%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ gửi tiết kiệm ngân hàng chỉ từ 14% đến 22%.

Thứ ba, về vốn xã hội và tài sản vật chất, mức độ tham gia Hội Nông dân đạt 83% ở mô hình lúa, 60% ở mô hình dừa và tôm - lúa, nhưng chỉ đạt 17% ở mô hình tôm công nghiệp. Tỷ lệ tiếp cận các hội tín dụng chính thức ở cả 4 nhóm đều rất thấp, chỉ từ 5% đến 28%. Về vốn vật lý, tỷ lệ nhà ở kiên cố 1 tầng ở mô hình nuôi tôm công nghiệp chiếm tới 93%, mô hình trồng lúa đạt 89%, mô hình trồng dừa đạt 80% và mô hình tôm - lúa đạt 68%.

Thứ tư, phương pháp phân tích thành phần chính PCA đã rút gọn và xác lập 6 thành phần chính cấu thành năng lực chống chịu của nông hộ gồm: Năng lực đề kháng và thích nghi, Vốn nhân lực theo học vấn, Lao động chuyên ngành nông nghiệp, Tỷ lệ lao động trong gia đình, Khả năng học hỏi chuyển đổi và Vốn tài sản vật chất.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa các chỉ số sinh kế phản ánh bản chất kinh tế và mức độ phơi bày rủi ro của từng mô hình sản xuất. Nông hộ nuôi tôm công nghiệp có tài sản vật chất vượt trội với tỷ lệ nhà kiên cố đạt 93% nhờ lợi nhuận cao từ các vụ mùa trúng giá. Tuy nhiên, nhóm này lại đối mặt với rủi ro tài chính lớn nhất khi 76% số hộ không nuôi gia súc dự phòng và 83% không tham gia các tổ chức hội đoàn. Tôm công nghiệp là hình thức độc canh đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, khi gặp biến động độ mặn hoặc dịch bệnh, nguy cơ phá sản và mất khả năng tái sản xuất vụ sau là rất cao.

Ngược lại, mô hình luân canh tôm - lúa thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt nhất trước quy luật thủy văn ven biển. Vùng ven biển Bến Tre có đặc thù độ mặn từ 4 đến 15 phần nghìn kéo dài 6 đến 8 tháng trong mùa khô, sau đó chuyển sang mùa mưa ngọt hóa. Nông dân canh tác tôm - lúa đã tận dụng chu kỳ này để nuôi tôm trong mùa mặn và trồng lúa mùa mưa, giúp rửa mặn, cắt đứt mầm bệnh và bảo vệ độ phì của đất. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu chuyển đổi sinh kế tại Cà Mau và Tiền Giang, khẳng định tính bền vững của các mô hình kết hợp sinh thái.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa rõ nét qua biểu đồ mạng nhện đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế, cho thấy mô hình trồng dừa và tôm - lúa có sự phát triển đồng đều giữa các trục vốn tự nhiên, xã hội và nhân lực. Đồng thời, biểu đồ phân tán không gian hai chiều giữa trục thành phần chính D1 và D2 đã phân tách rõ hai cụm sinh kế: cụm thích ứng truyền thống có tính chống chịu xã hội cao và cụm thâm canh hiện đại có tính chống chịu dựa trên tiềm lực tài chính nhưng dễ bị tổn thương sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực chống chịu và đảm bảo an ninh sinh kế cho người dân khu vực ven biển tỉnh Bến Tre, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất như sau:

  1. Hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và vận hành cống đập thông minh: Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến độ các dự án ngăn mặn, trữ ngọt trên các tuyến sông Ba Lai và Hàm Luông. Mục tiêu đến năm 2025 kiểm soát được độ mặn dưới 4 phần nghìn cho hơn 50.000 hecta đất nông nghiệp, đồng thời lắp đặt hệ thống quan trắc độ mặn tự động giúp nông dân chủ động lấy nước tưới.
  2. Mở rộng kênh tín dụng chính thức và quỹ bảo hiểm rủi ro thiên tai: Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với Hội Nông dân cấp huyện đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng tỷ lệ nông hộ tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi từ dưới 20% hiện nay lên trên 60% vào năm 2026. Thiết lập các gói tín dụng hỗ trợ lãi suất từ 5% đến 6% mỗi năm cho các hộ đầu tư chuyển đổi sang mô hình thích ứng.
  3. Chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuẩn hóa mô hình tôm - lúa: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre tổ chức tối thiểu 40 lớp tập huấn kỹ thuật mỗi năm tại 3 huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Trọng tâm là phổ biến các giống lúa chịu mặn từ 4 đến 6 phần nghìn và quy trình nuôi tôm an toàn sinh học nhằm tăng 30% hiệu quả kinh tế cho mô hình tôm - lúa.
  4. Đa dạng hóa nguồn thu nhập và phát triển sinh kế phi nông nghiệp: Ủy ban nhân dân các huyện ven biển xây dựng chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp gắn với chế biến nông sản và du lịch sinh thái. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng thu nhập ngoài nông nghiệp của các hộ đạt trên 35%, giảm bớt áp lực tài chính khi xảy ra các đợt hạn mặn nghiêm trọng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ quy hoạch nông nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các huyện ven biển có thể sử dụng cơ sở dữ liệu từ 174 hộ khảo sát để xây dựng quy hoạch phân vùng sinh thái nông nghiệp giai đoạn 2025-2030, tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư công trình.
  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các viện nghiên cứu và trường đại học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Biến đổi Khí hậu có thể kế thừa khung phân tích tích hợp giữa Khung sinh kế bền vững DFID, tính chống chịu chủ quan và kỹ thuật phân tích thống kê đa biến PCA.
  3. Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Các định chế tài chính và cơ quan phát triển quốc tế đang triển khai dự án thích ứng khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng các chỉ số vốn sinh kế để định vị chính xác nhóm nông hộ dễ bị tổn thương, đảm bảo phân bổ 100% nguồn tài trợ đúng mục tiêu.
  4. Nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp ven biển: Ban quản trị các hợp tác xã và chủ hộ sản xuất có thể tham khảo quy trình tối ưu hóa nguồn vốn dự phòng và kỹ thuật luân canh tôm - lúa để nâng cao năng lực ứng phó thiên tai, duy trì mức lợi nhuận ổn định từ 50 đến 100 triệu đồng trên mỗi hecta canh tác hàng năm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao mô hình nuôi tôm công nghiệp có tỷ lệ nhà kiên cố đạt 93% nhưng vẫn bị đánh giá là có mức độ rủi ro cao trước hạn mặn? Mô hình tôm công nghiệp mang lại nguồn thu lớn giúp 93% hộ xây dựng nhà kiên cố. Tuy nhiên, tính chống chịu tổng thể bị suy giảm do có tới 76% số hộ không nuôi gia súc dự phòng và 83% không tham gia Hội Nông dân. Đây là hình thức độc canh nhạy cảm với biến động môi trường nước, khi xảy ra sốc mặn hoặc dịch bệnh, nông hộ dễ rơi vào tình trạng mất trắng và thiếu nguồn vốn dự phòng để phục hồi vụ mới.

  2. Mô hình luân canh tôm - lúa có ưu điểm thích ứng gì nổi bật tại khu vực ven biển Bến Tre? Mô hình tôm - lúa chiếm 37% tổng số hộ khảo sát nhờ khả năng thích nghi tự nhiên với chu kỳ mặn ngọt hàng năm. Độ mặn ven biển thường dao động từ 4 đến 15 phần nghìn trong khoảng 6 đến 8 tháng mùa khô rất thích hợp để nuôi tôm, sau đó lượng mưa mùa ướt giúp ngọt hóa đồng ruộng để trồng lúa. Sự luân phiên này giúp cắt đứt mầm bệnh cho tôm và duy trì thu nhập ổn định cho người dân.

  3. Phương pháp phân tích thành phần chính PCA mang lại giá trị gì cho nghiên cứu sinh kế? Phương pháp PCA cho phép xử lý đồng thời tập số liệu đa biến phức tạp từ 174 mẫu khảo sát. Bằng các phép biến đổi toán học ma trận, PCA rút gọn 15 chỉ tiêu ban đầu thành 6 thành phần chính độc lập, giải thích hơn 70% phương sai toàn bộ dữ liệu. Kỹ thuật này giúp loại bỏ nhiễu và hỗ trợ nhận diện chính xác các yếu tố cốt lõi chi phối năng lực chống chịu.

  4. Trình độ học vấn ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chống chịu xâm nhập mặn của nông hộ? Trình độ học vấn là một trong 6 thành phần chính được xác lập qua phân tích đa biến. Tại các mô hình có trình độ trung học và phổ thông chiếm từ 27,69% đến 55,56%, nông dân có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh hơn, dễ dàng học hỏi các biện pháp trữ nước ngọt, xử lý đất nhiễm mặn và chủ động chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng phù hợp.

  5. Nguồn vốn tài chính phi chính thức đóng vai trò gì đối với đời sống của người dân vùng ven biển? Kết quả khảo sát cho thấy có từ 57% đến 78% hộ tích trữ tiền mặt và từ 17% đến 39% hộ tham gia chơi hụi, trong khi tỷ lệ gửi tiết kiệm ngân hàng chỉ từ 14% đến 22%. Các nguồn tài chính phi chính thức giúp người dân tiếp cận dòng tiền khẩn cấp nhanh chóng mà không cần thủ tục thế chấp phức tạp, kịp thời mua con giống và vật tư để tái thiết sản xuất sau hạn mặn.

Kết luận

  • Xâm nhập mặn là nguy cơ thường trực đe dọa sinh kế của 5 triệu người dân ven biển Đồng bằng sông Cửu Long và trực tiếp ảnh hưởng đến 94,2% diện tích tự nhiên tỉnh Bến Tre.
  • Kết quả khảo sát 174 nông hộ đã định lượng hóa toàn diện 5 nguồn vốn sinh kế và 3 khía cạnh chống chịu của 4 mô hình sản xuất nông nghiệp chủ lực.
  • Mô hình luân canh tôm - lúa và trồng dừa thể hiện tính chống chịu sinh thái bền vững, trong khi mô hình tôm công nghiệp đòi hỏi phải bổ sung các quỹ dự phòng tài chính an toàn.
  • Phân tích thống kê đa biến PCA đã xác lập 6 thành phần then chốt, cung cấp khung định lượng chuẩn xác để thiết kế chính sách thích ứng hạn mặn giai đoạn 2022-2030.
  • Các cơ quan quản lý và cộng đồng nông thôn cần khẩn trương phối hợp triển khai 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ nguồn tài nguyên, nâng cao thu nhập và kiến tạo nền nông nghiệp ven biển bền vững.