Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế ven biển tại Việt Nam, đặc biệt tại vùng đồng bằng sông Hồng. Với đặc thù địa hình bằng phẳng có độ dốc dưới 1% và cao trình phổ biến chỉ từ 1m đến 2m so với mực nước biển, tỉnh Thái Bình sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài lên tới 8.492 km và mật độ trung bình từ 5 đến 6 km/km². Tỉnh duy trì diện tích đất nông nghiệp rộng lớn khoảng 88.072 ha, hàng năm đóng góp sản lượng lương thực ổn định trên 1,1 triệu tấn lúa, giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự gia tăng xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng qua hệ thống sông Hóa – tuyến thủy văn dài 35,3 km giáp ranh giữa Thái Bình và Hải Phòng. Vào mùa khô, lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm mạnh, kết hợp với chế độ nhật triều biên độ lớn và nước biển dâng, khiến ranh giới mặn tiến sâu từ 15 km đến 20 km. Hiện tượng này làm tê liệt khả năng lấy nước tự chảy tại hàng loạt cống tưới tiêu quan trọng, gây nguy cơ suy giảm tới 18,8% sản lượng lương thực toàn tỉnh.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xây dựng mô hình thủy động lực học ba chiều EFDC (Environmental Fluid Dynamics Code) nhằm mô phỏng, đánh giá định lượng mức độ lan truyền mặn trên sông Hóa trong điều kiện hiện trạng và dưới các kịch bản nước biển dâng 50 cm, 75 cm và 100 cm. Nghiên cứu tập trung vào không gian lưu vực sông Hóa từ thị trấn An Bài đến cửa biển Diêm Điền trong khung thời gian mùa kiệt với tần suất dòng chảy thiết kế 85%. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu dự báo chính xác diễn biến độ mặn theo thời gian và không gian, bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp cho hơn 1,78 triệu dân và định hướng quy hoạch tài nguyên nước bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hai lý thuyết trụ cột: lý thuyết thủy động lực học chất lỏng phi nén ba chiều và lý thuyết khuếch tán đối lưu vật chất trong môi trường nước mặt. Về mặt động lực học, hệ thống phương trình chuyển động Navier-Stokes được giải với giả thiết xấp xỉ thủy tĩnh theo phương thẳng đứng và xấp xỉ Boussinesq đối với sự biến đổi tỷ trọng chất lỏng. Quá trình vận chuyển và lan truyền độ mặn được mô tả thông qua phương trình đạo hàm riêng bảo toàn khối lượng muối kết hợp các hệ số khuếch tán rối theo chiều ngang và chiều đứng.

Các khái niệm chính được sử dụng xuyên suốt bao gồm:

  • Chế độ nhật triều: Chu kỳ triều 24 giờ 50 phút với thời gian triều lên khoảng 8 giờ và triều xuống khoảng 16 giờ, tạo biên độ dao động trung bình từ 150 cm đến 180 cm.
  • Ranh giới mặn cho phép (ngưỡng 1 ppt): Hàm lượng muối tiêu chuẩn tương đương 1 g/lít, giới hạn tối đa để khai thác nước tưới cho lúa thuần nông và cấp nước sinh hoạt nông thôn.
  • Module dòng chảy mùa kiệt: Chỉ số phản ánh lượng nước sinh ra từ lưu vực trong mùa khô, dao động trong khoảng 11 đến 13 l/s/km², chỉ chiếm 31% đến 36% tổng lượng dòng chảy cả năm.
  • Phân tầng mật độ: Hiện tượng nước biển có tỷ trọng lớn hơn chui sâu vào đáy sông tạo thành lưỡi mặn hình nêm, trong khi nước ngọt nhẹ hơn chảy tràn lên trên bề mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào phục vụ mô hình bao gồm: chuỗi số liệu khí tượng thủy văn nhiều năm từ 11 trạm quan trắc mưa (Ba Lạt, Đa Cốc, Bến Hiệp, Quyết Chiến) với lượng mưa trung bình năm từ 1.412 mm đến 1.595 mm; số liệu mực nước giờ tại trạm hải văn Hòn Dấu; tài liệu trắc địa 45 mặt cắt địa hình thực đo lòng sông Hóa kết hợp xử lý nội suy bổ sung cứ mỗi 100 m bằng công cụ thủy lực HEC-RAS.

Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn phần mềm mô hình số EFDC tích hợp phương pháp sai phân hữu hạn chính xác bậc hai. Không gian tính toán được rời rạc hóa thành hệ thống lưới cong trực giao gồm 2.673 ô phần tử và 7 lớp sigma chia đều theo chiều sâu thẳng đứng. Cỡ mẫu tính toán đảm bảo bao quát toàn bộ 35,3 km chiều dài sông Hóa từ cầu Nghìn đến cửa biển. Điều kiện biên thượng lưu tiếp nhận 3,5% lưu lượng dòng chảy sông Hồng tại Hà Nội ứng với tần suất dòng chảy kiệt P=85% (lưu lượng từ 5.450 m³/s đến 7.330 m³/s), biên hạ lưu áp đặt dao động triều thực đo năm 2010 và năm 2013.

Lý do lựa chọn mô hình 3D EFDC thay vì các mô hình 1D truyền thống là do sông Hóa có sự uốn khúc phức tạp và chịu ảnh hưởng sâu sắc của hiện tượng phân tầng mật độ nước mặn - ngọt tại vùng cửa sông. Thuật toán phân tách chế độ chuyển động trong và ngoài của EFDC giúp kiểm soát cân bằng thể tích và bảo toàn khối lượng tuyệt đối, mang lại độ tin cậy vượt trội trong việc xác định chính xác thời điểm và vị trí xuất hiện lưỡi mặn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình hóa số liệu thủy động lực học và lan truyền mặn trên sông Hóa đem lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Hiện trạng xâm nhập mặn mùa kiệt: Tại mực nước biển trung bình hiện tại (1,93 m tại Hòn Dấu), lưỡi mặn với nồng độ 1 ppt lấn sâu vào sông Hóa tối đa khoảng 17,5 km tính từ cửa biển trong các đợt triều cường tháng 1 đến tháng 3. Khu vực cống Hệ nằm cách cửa sông hơn 26 km hầu như được an toàn với độ mặn luôn duy trì dưới 1 ppt trong suốt 98% thời gian mùa khô.

  2. Tác động ở kịch bản nước biển dâng 50 cm: Mực nước biển dâng lên cao trình 2,43 m khiến tỷ lệ diện tích đất tự nhiên thấp hơn mực nước biển toàn tỉnh Thái Bình tăng từ 34,64% (534,32 km²) lên 50,10% (772,89 km²). Ranh giới độ mặn 1 ppt trên sông Hóa bị đẩy sâu thêm 3,5 km về phía thượng lưu, làm giảm 28,4% thời gian có thể lấy nước ngọt tự chảy tại các cống thuộc huyện Thái Thụy.

  3. Tác động ở kịch bản nước biển dâng 75 cm và 100 cm: Khi nước biển dâng 100 cm (cao trình 2,93 m), có tới 65,23% diện tích toàn tỉnh (tương đương 1.006,17 km²) nằm dưới mực nước biển trung bình. Huyện Thái Thụy và Tiền Hải chịu rủi ro ngập nặng nhất với tỷ lệ lần lượt là 82,58% (212,06 km²) và 81,45% (184,16 km²). Ranh giới mặn 1 ppt vượt qua cống Hệ và tiến sát khu vực cầu Nghìn (sâu hơn 32 km), khiến thời gian có nước ngọt tại cống Hệ giảm mạnh trên 55% trong các tháng 1, 2 và 3.

  4. Sự hình thành chênh lệch mặn theo phương đứng: Nồng độ muối ở tầng đáy luôn cao hơn tầng mặt từ 0,8 ppt đến 2,2 ppt tùy thuộc vào cường độ dòng triều, chứng minh tính phân tầng rõ rệt của quá trình xâm nhập mặn vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng mặn ăn sâu là do sự mất cân bằng giữa áp lực triều biển và lưu lượng đẩy của sông. Vào mùa khô, tổng lượng dòng chảy sông chỉ chiếm khoảng 31% cả năm, trong khi xu thế mực nước đỉnh triều thực tế tại vùng biển ven bờ đo được mức tăng từ 0,2 cm đến 0,6 cm mỗi năm. Khi mực nước biển dâng, độ sâu cột nước tăng làm giảm ma sát đáy, tạo điều kiện cho sóng triều mặn truyền sâu hơn và nhanh hơn vào nội đồng.

So sánh với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (nơi diện tích nhiễm mặn trên 4 ppt dự báo chiếm từ 41% đến 47% diện tích), mức độ nhiễm mặn trên sông Hóa tuy có nồng độ đỉnh thấp hơn nhưng lại chịu tính chất nhật triều biên độ cao (lên tới 270 cm), gây khó khăn lớn cho việc canh giờ mở cống lấy nước ngọt.

Toàn bộ kết quả diễn biến mặn được biểu diễn trực quan thông qua bản đồ dải phổ màu nồng độ muối từ 0,1 ppt đến 30 ppt tại các thời điểm triều xung yếu và biểu đồ phân bố thời gian xuất hiện nồng độ muối dưới 1 ppt theo từng tháng mùa kiệt. Bảng so sánh % thời gian có nước ngọt giữa các kịch bản giúp định lượng rõ mức độ suy giảm nguồn nước phục vụ tưới tiêu tại từng vị trí công trình cống cụ thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích định lượng từ mô hình EFDC, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và phi công trình cụ thể:

  1. Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình cống ngăn mặn: Tiến hành gia cố, lắp đặt cửa van tự động đóng mở theo triều và nồng độ mặn tại hệ thống cống phân lưu như cống Hệ, cống Thuyền Quan, cống Dực Dương và cống Sa Lung. Mục tiêu đảm bảo tự động ngắt dòng khi nồng độ mặn vượt quá 1 ppt, bảo vệ trọn vẹn diện tích 82.678 ha lúa của tỉnh. Kế hoạch triển khai do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2024–2027.

  2. Thiết lập mạng lưới quan trắc và cảnh báo tự động chất lượng nước: Xây dựng 5 trạm quan trắc độ mặn và mực nước tự động truyền dữ liệu theo thời gian thực (real-time) từ cửa Diêm Điền dọc theo sông Hóa lên đến cầu Nghìn. Hệ thống này giúp cung cấp thông tin dự báo trước từ 24 đến 48 giờ để các hợp tác xã nông nghiệp chủ động thời điểm mở cống lấy nước ngọt. Đơn vị thực hiện là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh trong năm 2025.

  3. Điều tiết xả nước từ các hồ chứa thủy điện thượng nguồn: Xây dựng quy trình phối hợp liên tỉnh để điều tiết xả nước đẩy mặn từ hồ thủy điện Hòa Bình và hồ Tuyên Quang vào hệ thống sông Hồng trong các kỳ triều cường chính vụ Đông Xuân (tháng 1 đến tháng 3). Target metric là duy trì lưu lượng tối thiểu đạt 3,5% tại điểm đầu sông Hóa nhằm duy trì ranh giới mặn 1 ppt ở hạ lưu cống Hệ ít nhất 8 km.

  4. Tái cơ cấu mùa vụ và chuyển đổi mô hình sinh kế nông nghiệp: Chuyển đổi khoảng 15.000 ha đất canh tác lúa kém hiệu quả thường xuyên bị thiếu nước ngọt tại các xã ven biển huyện Thái Thụy và Tiền Hải sang mô hình kinh tế lúa - rươi kết hợp hoặc nuôi trồng thủy sản nước lợ có giá trị kinh tế cao. Lộ trình thực hiện do UBND tỉnh Thái Bình chỉ đạo hoàn thành trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Thái Bình và Hải Phòng. Giá trị mang lại là căn cứ khoa học chuẩn xác để lập quy hoạch phân vùng tài nguyên nước mặt, xây dựng kịch bản hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh và quản lý mạng lưới 8.492 km sông ngòi liên tỉnh.

  2. Các công ty khai thác công trình thủy lợi: Đơn vị quản lý hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình. Sử dụng tập bản đồ phân bố mặn và biểu đồ thời gian mặn dưới 1 ppt để lập lịch vận hành đóng mở cống hợp lý, tránh hoàn toàn rủi ro lấy nhầm nước mặn gây cháy lá và chết lúa vụ xuân.

  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các chuyên gia trong lĩnh vực Thủy văn, Môi trường, Biến đổi khí hậu và Kỹ thuật tài nguyên nước. Luận văn cung cấp case study hoàn chỉnh về quy trình thiết lập lưới cong 2.673 ô, kỹ thuật nội suy HEC-RAS 100 m và cài đặt điều kiện biên cho mô hình 3D EFDC.

  4. Doanh nghiệp cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp: Các công ty nước sạch hoạt động trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy. Luận văn hỗ trợ xác định tọa độ đặt các trạm thu nước mặt thô ổn định dài hạn, phòng ngừa nguy cơ nước nguồn bị nhiễm mặn trong bối cảnh nước biển dâng.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình EFDC có điểm gì vượt trội so với các mô hình 1D trong việc mô phỏng sông Hóa? Mô hình EFDC tích hợp tính toán 3 chiều với 7 lớp sigma theo phương đứng, cho phép mô tả chân thực hiện tượng phân tầng mật độ nước ngọt và mặn ở vùng cửa sông ven biển. Các mô hình 1D chỉ tính toán giá trị trung bình mặt cắt ngang nên thường bỏ qua chênh lệch độ mặn tầng đáy (vốn cao hơn từ 0,8 ppt đến 2,2 ppt), dẫn đến đánh giá sai thời điểm xâm nhập mặn.

Tại sao nghiên cứu lại chọn mốc nồng độ muối 1 ppt làm ranh giới đánh giá chính? Nồng độ muối 1 ppt (tương đương 1 g/lít) là tiêu chuẩn kỹ thuật thủy lợi quốc gia cho phép lấy nước phục vụ tưới tiêu lúa thuần và cấp nước sinh hoạt nông thôn. Nếu độ mặn vượt quá 1 ppt, việc tưới tiêu kéo dài sẽ gây ngộ độc mặn, làm suy giảm nghiêm trọng năng suất của hơn 82.000 ha đất trồng lúa tại tỉnh Thái Bình.

Khi nước biển dâng 100 cm, địa phương nào tại Thái Bình chịu tác động nặng nề nhất? Theo kết quả mô hình số độ cao, huyện Thái Thụy và Tiền Hải chịu rủi ro lớn nhất với diện tích đất nằm thấp hơn mực nước biển lần lượt là 82,58% (212,06 km²) và 81,45% (184,16 km²). Trên sông Hóa, toàn bộ hệ thống lấy nước phục vụ nông nghiệp của Thái Thụy sẽ bị nhiễm mặn trong hầu hết thời gian mùa khô.

Nước biển dâng ảnh hưởng như thế nào đến chế độ dòng chảy mùa kiệt của sông Hóa? Nước biển dâng làm nâng cao mực nước biên hạ lưu (đỉnh triều dâng thêm từ 50 cm đến 100 cm), trong khi dòng chảy thượng nguồn mùa kiệt chỉ đạt module 11 đến 13 l/s/km². Sự chênh lệch gradient thủy lực này làm gia tăng thời gian triều mặn truyền ngược dòng, đẩy lưỡi mặn tiến sâu thêm từ 3,5 km đến hơn 14 km so với hiện trạng.

Tài liệu khảo sát thực địa nào đã được dùng để hiệu chỉnh độ tin cậy của mô hình? Mô hình EFDC được hiệu chỉnh dựa trên số liệu quan trắc độ mặn thực tế ngày 20/03/2010 tại trạm Hồng Quỳnh trên sông Hóa cùng chuỗi đo mực nước giờ năm 2010 và năm 2013 tại Hòn Dấu. Kết quả so sánh giữa đường cong tính toán mô hình và số liệu thực đo cho thấy hệ số tương quan cao, khẳng định độ tin cậy tuyệt đối của phương pháp.

Kết luận

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến xâm nhập mặn sông Hóa đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra với những đóng góp nổi bật:

  • Xây dựng thành công bộ công cụ mô hình số 3 chiều EFDC với 2.673 ô lưới cong trực giao và 7 tầng sigma, mô phỏng chính xác cơ chế thủy động lực và lan truyền mặn trên 35,3 km sông Hóa.
  • Định lượng rõ nét tác động của các kịch bản nước biển dâng: ở mức dâng 100 cm, diện tích đất thấp hơn mực nước biển toàn tỉnh Thái Bình lên tới 65,23% (1.006,17 km²), ranh giới mặn 1 ppt lấn sâu qua cống Hệ tới gần cầu Nghìn.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về tỷ lệ suy giảm thời gian lấy nước ngọt tự chảy tại từng công trình cống xung yếu trong các tháng mùa khô cao điểm (tháng 1 đến tháng 4).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, từ nâng cấp cống tự động, lập 5 trạm quan trắc tự động đến chuyển đổi 15.000 ha cơ cấu cây trồng thích ứng trước năm 2030.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc liên kết mô hình sông - biển tổng thể và đánh giá quá trình nhiễm mặn tầng chứa nước dưới đất dọc dải ven biển Bắc Bộ.

Các cơ quan quản lý, đơn vị vận hành thủy nông và nhà khoa học quan tâm đến quy trình mô hình hóa EFDC chi tiết có thể liên hệ và khai thác toàn văn tài liệu luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn ngay hôm nay.