CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước: 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng biến đổi khí hậu đã được các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Sự nóng lên của trái đất làm cho băng tuyết của các dãy Himalaya, vùng Nam Cực, Bắc Cực và các khu vực có băng tuyết khác tan chảy.
Ngày 11/5/2008 tại cuộc họp của các Bộ trưởng khối G8 gồm Anh, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Nga và Mỹ diễn ra tại thành phố cảng Niigata (Nhật Bản), vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đã được chọn làm chủ đề chính trong chương trình. Tại Hội nghị thượng đỉnh G8 diễn ra tại Hokkaido (Nhật Bản) từ ngày 7 đến 9/7/2008, các nước công nghiệp phát triển đã thỏa thuận đầu tư hơn 10 tỉ USD cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chống nguy cơ nóng lên toàn cầu. Theo đó, những cuộc nghiên cứu chôn khí CO2 vào lòng đất được các nhà khoa học trên thế giới chính thức thông qua. Cũng tại hội nghị G8 nói trên, mục tiêu giảm thiểu khí nhà kính được đặt ra cho từng quốc gia từ năm 2013.
Chính vì vậy việc xây dựng một "Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và nước biển dâng" là vấn đề hết sức cấp thiết, mà các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải chung tay ứng phó. Trong các nghiên cứu của IPCC, UNDP về các kịch bản BĐKH thì hệ thống các mô hình toán khí động học khí quyển, mô hình thủy động lực học cho các đại dương được xây dựng và sử dụng để đánh giá định lượng tác động của BĐKH đến khí hậu toàn cầu, mực nước các đại dương trên thế giới. Với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia trên cơ sở các kịch bản BĐKH toàn cầu sẽ có các nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động của BĐKH đến từng yếu tố khí tượng (nhiệt độ, mưa, độ ẩm, bốc hơi…), điều kiện thủy văn, hải văn (dòng chảy trong sông, dao động triều, biến đổi mực nước biển). Mô hình toán được sử dụng trong trường hợp này thường là mô hình thủy động lực học HEC (Mỹ), SOBEK (Hà Lan), MIKE (Đan Mạch), ISIS (Anh).2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước: Theo kết quả đánh giá sơ bộ của Viện Quy hoạch Thủy lợi về tác động của biến đổi khí hậu đến lưu vực sông Hồng, Thái Bình cho thấy, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống lưu vực sông Hồng – Thái Bình.
Cụ thể đối với cấp nước: Hệ thống cống bị mặn như Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài, Thái Học trên sông Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà Lý, Hệ trên sông Hoá, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba, Đồng, Lý Xã, Cao Nội trên sông Thái Bình, Cống Thốp trên sông Ninh Cơ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số công trình khoa học liên quan đến xâm nhập mặn ở Việt Nam như: Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm thiểu thiệt hại. Các kết quả của đề tài có hàm lượng khoa học cao được thể hiện qua sự phân tích đánh giá định lượng các tài liệu đã thu thập cùng các yếu tố tác động để xây dựng ra các mô hình tính toán phù hợp, có các phân tích đánh giá khoa học để xác định mô hình phù hợp (mô hình xâm nhập mặn nước mặn 3 chiều bằng phần mềm của Cục môi trường Mỹ). Nghiên cứu xâm nhập mặn nước dưới đất trầm tích đệ tứ vùng Nam Định.
Luận án đã góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành, nguồn gốc và nguồn bổ cập cho thấu kính nước nhạt. Xác định cơ chế xâm nhập mặn và vai trò của các cơ chế trong quá trình xâm nhập mặn. Tác giả đã thiết lập được các phương trình tương quan giữa các thông số Địa chất thủy văn với thông số địa vật lý và đồng vị, là cơ sở áp dụng cho vùng nghiên cứu và các vùng có điều kiện địa chất thủy văn tương tự. Luận án đã xác định được hiện trạng phân bố mặn - nhạt nước dưới đất, đánh giá và dự báo diễn biến xâm nhập mặn ở vùng nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, quy hoạch tài nguyên nước, các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học nhằm phục vụ khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước dưới đất quý giá này. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – nước biển dâng đến tình hình xâm nhập mặn dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ. Đề tài ứng dụng mô hình MIKE 11 mô phỏng tính toán dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn vùng nghiên cứu. Kết quả tính toán từ mô hình cho biết tình hình diễn biến mực nước, lưu lượng và xâm nhập mặn dọc theo các sông.
Kết quả này cho thấy trong tương lại độ mặn tại các cửa cống lấy nước ven sông sẽ vượt quá giới hạn cho phép, không thể lấy nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Điều này cho thấy mức độ căng thẳng về nguồn nước ngày càng tăng và sự cấp thiết phải tìm ra các giải pháp công trình và phi công trình để cải thiện việc cấp nước trong mùa kiệt trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện BĐKH ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài đã nghiên cứu xâm nhập mặn vào các sông do BĐKH và NBD.
Việc đánh giá ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sử dụng đất ở ĐBSCL được thực hiện thông qua chổng lớp bản đồ đường ranh giới độ mặn l‰, 4‰ với bản đổ sử dụng đất hiện tại và tương lai. Trong 30 năm tới, diện tích đất lớn nhất có thể bị ảnh hưởng bởi độ mặn lớn hơn 4‰ khoảng 1.200 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ha, chiếm 41% diện tích toàn đồng bằng sông Cửu Long, tăng 255.100 ha so với thời kỳ nền năm 1991-2000; diện tích chịu ảnh hưởng của độ mặn lớn hơn 1‰ khoảng 2.100 ha, chiếm 59% diện tích tự nhiên, tăng 193. Trong 50 năm tới, diện tích đất lớn nhất có thể bị ảnh hưởng bởi độ mặn lớn hơn 4‰ khoảng 1.200 ha, chiếm 47% diện tích toàn đồng bằng sông Cửu Long, tăng 439.200 ha so với thời kỳ nền năm 1991-2000; diện tích chịu ảnh hưởng của độ mặn lớn hơn 1‰ khoảng 2.100 ha, chiếm 64% diện tích tự nhiên, tăng 456. Gần 4/5 diện tích vùng Bán đảo Cà Mau bị ảnh hưởng mặn (ngoại trừ phần diện tích Tây sông Hậu).
Toàn bộ diện tích các dự án Gò Công, Bảo Định, Bắc Bến Tre, Mỏ Cày, Nam Măng Thít, Tiếp Nhật, bị nhiễm mặn. Ngoài các thành phố/thị xã Bên Lức, Tán An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên vốn đã bị ảnh hưởng mặn sẽ thêm Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ bị ảnh hưởng do nước mặn xâm nhập sâu hơn. Áp dụng mô hình MIKE 11, nghiên cứu mô phỏng diễn biến thủy văn, thủy lực và xâm nhập mặn hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai, đồng thời đề xuất lưu lượng xả cần thiết từ hồ Dầu Tiếng xuống hạ lưu sông Sài Gòn. (Đề tài do nhóm tác giả đến từ ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Bách Khoa, Viện Môi trường và Tài Nguyên thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM; Viện Nước và Công nghệ Môi trường TP.HCM và Công ty TNHH MTV Nước và Môi trường Bình Minh thực hiện).
Đề tài sử dụng phần mềm MIKE 11 là phần mềm kỹ thuật chuyên dụng do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển. Các tài liệu tính toán dùng cho mô hình được cập nhật từ đề tài KC08 18/06-10 năm 2010 của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam; Trên cơ sở bộ dữ liệu, kết hợp với phương pháp thống kê, bản đồ và công nghệ GIS, nghiên cứu đã thiết lập mô hình dự báo diễn biến xâm nhập mặn hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai dưới tác động của biến đổi khí hậu đến năm 2050. Kết quả dự báo cho thấy, tác động của biến đổi khí hậu chủ yếu làm mực nước dềnh lên cao, mặn xâm nhập sâu vào trong theo các ngưỡng chưa đến 2 km. Qua phân tích, phương án kiểm soát mặn khả thi trong tương lai là điều tiết xả đẩy mặn từ công trình Dầu Tiếng.
Từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các mức xả cần thiết tương ứng với từng kịch bản biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu giúp hỗ trợ kiểm soát tình hình xâm nhập mặn nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Tổng quan khu vực nghiên cứu Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. + Phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam. + Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ. Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành phố, thị xã là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, thị xã Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 1567,4 km2 chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nước; dân số khoảng 17863,3 nghìn người; mật độ dân số 1140 người/km2 (Tổng cục Thống kê, 2011)[7]; giới hạn xung quanh tỉnh là sông và biển, địa hình bị chia cắt làm hai bởi sông Trà Lý.
Vị trí địa lý tỉnh Thái Bình [7] 1. Điều kiện kinh tế xã hội 1. Dân số Năm 2010, Thái Bình có 1.800 người với mật độ dân số 1.195 người/km² [7]. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0.
Dân số đô thị của tỉnh 146 nghìn người, bình quân tăng 7,02%/năm, tỷ lệ đô thị hóa mới đạt 7,89%, chỉ bằng 33,3% vùng đồng bằng sông Hồng (23,8%) và 30% của cả nước (26,3%). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân cư nông thôn trung bình 2000 người/thôn, phân bố phân tán chia cắt mạnh với mật độ 0,5 thôn/Km2. Mật độ dân cư ở trong các thôn trung bình 5.403 người/Km2 (vượt ngưỡng của đô thị loại V).