CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan trên thế giới về ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu, Phát triển kinh tế - xã hội đến sự thiếu hụt nước Định nghĩa: Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, sinh quyển, thủy quyển, thạch quyển ở hiện tại và trong tương lai do tác động của những nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.1 Biến đổi khí hậu Định nghĩa: Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Tức là kinh tế phải đáp ứng được nhu cầu cơ bản của con người.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trên thế giới 1.1 Tình hình thiếu hụt Tài nguyên nước trên thế giới Nước là nguồn tài nguyên quan trọng không thể thiếu trong các hoạt động và việc duy trì sự sống của con người trên hành tinh. Việc đáp ứng nhu cầu nước cả về chất lượng và số lượng là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững.
3 Từ những năm đầu của thế kỷ 20, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do sự gia tăng về dân số và nhu cầu về nước của từng cá nhân. Ở một số quốc gia, lượng nước cho mỗi đầu người đang bị giảm đáng kể. Hội đồng Năng lượng Thế giới dự báo đến năm 2030, lượng nước trên toàn cầu giảm đến 40% gây tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng, sinh hoạt, sản xuất lương thực, vệ sinh và cũng như 98% hoạt động sản xuất điện năng trên toàn cầu. Nguồn tài nguyên nước sẽ tiếp tục phải chịu sức ép của các yếu tố như tăng dân số, ô nhiễm môi trường, tình trạng biến đổi khí hậu (nắng nóng, hạn hán, lũ lụt).
Bên cạnh đó, các rủi ro lớn đang hiện hữu đối với các con sông lớn có vai trò chiến lược của thế giới, như sông Bra-ma-pu-ta ở Tây Nam Á; sông A-mu Đa-ri-a ở Trung Á; sông Nin và lưỡng hà Ti-grít Ưu-phrát ở Trung Đông và sông Mê Công ở khu vực Đông Nam Á. WRC cảnh báo, Nam Phi sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng nước nghiêm trọng vào năm 2026 nếu tiếp tục sử dụng tùy tiện nguồn nước như hiện nay, đó là chưa kể đến nguy cơ nguồn nước ngầm bị nhiễm chì, thạch tín và một số độc tố khác do hoạt động của ngành khai thác mỏ trong hàng trăm năm qua. Các vấn đề về nước đang trở thành tâm điểm tại nhiều diễn đàn lớn trên thế giới. Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Johannesburg, Nam Phi, nước được xếp ở vị trí cao nhất trong số 5 ưu tiên để phát triển bền vững.
Cụ thể, mức độ ưu tiên như sau: Nước-W, Năng lượng-E, Sức khoẻ-H, Nông nghiệp-A và Đa dạng sinh học-B.2 Các nghiên cứu về Biến đổi khí hậu (BĐKH), Phát triển kinh tế - xã hội đến tài nguyên nước trên thế giới Trên thế giới, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến lĩnh vực tài nguyên nước, một số nghiên cứu điển hình như sau: - Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến lưu vực sông Tarim (Trung Quốc) của Z. Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả ảnh hưởng của biến đổi khí hâu đến dòng chảy lưu vực sông Tarim là là rất lớn và theo chiều hướng cực đoan, lượng mưa về mùa mưa sẽ tăng mạnh và giảm nhiều về mùa khô. 4 - Nghiên cứu mô phỏng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nguồn nước ở miền Trung của Thủy Điển của tác giả Chong-Yu-Xu đã đánh giá được sự thay đổi nguồn nước tương ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu (nhiệt độ, mưa) bằng phương pháp mô phỏng mưa - dòng chảy. - Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn nước và nhu cầu nước nông nghiệp ở vùng West Bank (tác giả Numan Mizyed, 2008) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn nước của lưu vực và ảnh hưởng của nó đến nhu cầu nước của nông nghiệp.
- Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tiềm năng đến cân bằng nước của một lưu vực ở Jordan của tác giả Fayex Abdulla và Tamer Eshtawi đã đánh giá được sự thay đổi của dòng chảy năm theo các kịch bản về mưa và nhiệt độ qua sử dụng phương pháp mô phỏng mưa - dòng chảy. - Các nghiên cứu (Vorosmarty, 2000; Oki, 2003; Arnell, 2004; Alcamo, 2003a, b, 2007) chỉ ra căng thẳng về nước giữa các khu vực là khác nhau đáng kể. - Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế đến khả năng đáp ứng nguồn nước của hồ chứa Namtien, Sayaboury, Lào của tác giả Lê Văn Chín và Vinvilay Sayaphone (Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường, số 44 năm 2014). Trong công trình công bố này, hai tác giả đã đi nghiên cứu ảnh hưởng của các kịch bản BĐKH và kịch bản phát triển kinh tế trong các giai đoạn 2030 và giai đoạn đến sự thiếu hụt nước của hồ chứa NamTien.
Trong báo cáo này, các tác giải đã đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp ứng phó với hạn hán thiếu hụt nước.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam 1.1 Xu thế Biến đổi khí hậu ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao, đồng thời cũng là một trong những quốc gia có nguy cơ cao nhất ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, đối với hạn hán, bão, lũ lụt. Theo dự đoán của một số nhà nghiên cứu về khí tượng học vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng 3oC và số đợt, số ngày nắng nóng cực đoạn 5 trong năm sẽ tăng, mực nước biển dự báo sẽ dâng cao lên 1m. Điều này dẫn đến nhiều hiện tượng bất thường của thời tiết, đặc biệt là tình hình bão lũ và hạn hán. Cũng theo dự báo nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập lụt khoảng 12,2% diện tích đất, đây là vùng sinh sống của khoảng 23% dân số của Việt Nam (khoảng 17 triệu người).
Nếu không có kế hoạch đối phó, phần lớn diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập trắng một khoảng thời gian dài trong năm, ước tính thiệt hại lên tới 17 tỷ USD. Như vậy có thể thấy, biến đổi khí hậu tạo thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Tác động tiềm tàng của Biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam tới phát triển kinh tế - xã hội Sự nóng lên toàn cầu làm tăng khả năng xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như sóng nhiệt, khi đó nhiệt độ tối đa hàng ngày sẽ vượt nhiệt độ tối đa trung bình. Khi nhiệt độ tăng lên sẽ làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm thay đổi cơ cấu các loài động vật, thực vật và vi sinh vật, nhiều loài phải di dời hoặc bị tuyệt chủng do môi trường của chúng thay đổi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học.
Sự ấm lên toàn cầu đã mang lại những thay đổi khó có thể đảo ngược đối với các hệ sinh thái, sinh học và địa chất của Trái đất, những thay đổi này đã dẫn đến sự xuất hiện của các nguy cơ về môi trường đối với sức khỏe con người như tăng bệnh tật, đặc biệt là sự lây lan toàn cầu của các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm. Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như công nghiệp, vận tải và năng lượng, cơ sở hạ tầng, thương mại và du lịch. Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam đối với tài nguyên nước và các công trình thủy lợi. Tác động tới tài nguyên nước Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến tài nguyên nước tại Việt Nam, nguồn nước đang có xu hướng giảm, cạn kiệt ở nhiều khu vực trên cả nước làm ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất thủy điện.
Những thay đổi về mưa sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các sông, cường 6 độ và tần suất các trận lũ, các đợt hạn hán không còn tuân theo quy luật. Do đó, các hiểm họa liên quan đến nước như lũ lụt và hạn hán càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tốc độ sa mạc hóa đang diễn ra nhanh chóng, tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều đồi núi trọc đang bị mưa lũ làm lở đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn. Sự thay đổi về nguồn nước và chất lượng nước là một trong những vấn đề đáng lo ngại và là mối quan tâm lớn không chỉ với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia khác trên thế giới.
* Lượng mưa năm và mưa cực trị Lượng mưa mùa khô ở một số vùng có xu thế giảm, mưa cực trị có xu thế tăng. Theo kịch bản RCP4.5, lượng mưa trung bình năm có xu thế tăng ở hầu hết diện tích cả nước đến cuối thế kỷ 21, phổ biến từ 5 ÷ 15%, một số tỉnh ven biển có thể tăng trên 20%. * Dòng chảy mùa lũ Vào giữa thế kỷ, xu thế giảm ở Tây Bắc, phần lớn Việt Bắc, mức giảm nhiều nhất là 10%; Khu vực Nam Bộ, nam Tây Nguyên, phía tây Trung Bộ mực tăng phổ biến từ 5÷20%. Đến cuối thế kỷ, mức giảm nhiều nhất đến 15% phần lớn ở Đông Bắc, một phần Đồng bằng Bắc Bộ và một phần sát biên giới phía bắc thuộc Tây Bắc và Đông Bắc; Các tỉnh từ Chí Linh trở vào có mức tăng phổ biến từ 20÷25%.
* Dòng chảy mùa cạn Theo kịch bản RCP4.5, lượng mưa mùa hè có xu thế tăng với mực tăng phổ biến từ 3÷12% ở hầu hết cả nước vào đầu thế kỷ. Đến cuối thế kỷ, xu thế biến đổi tương tự như với giữa thế kỷ, tuy nhiên lượng mưa giảm mở rộng hơn về phía Bắc. Ở Đông Bắc và Tây Bắc xu thế tăng nhiều nhất cả nước với mức tăng phổ biến từ 15÷25%; ở Tây Nguyên và phía tây Nam Bộ có xu thế tăng ít nhất cả nước, với mức tăng dưới 5%. Tác động tới công trình thủy lợi Việt Nam nằm ở khu vực phía Tây bắc Thái Bình Dương, đây là một trong những khu vực có bão hoạt động mạnh.
Bão, lũ là nguyên nhân khiến cho các công trình hạ tầng 7 bị phá hủy; hệ thống đê sông, đê biển bị hư hỏng, sạt lở nghiêm trọng, nhiều điểm khoét sâu thành hàm ếch.