Chương I: Gidi thiệu chung nghiệp vùng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ; ii) Hệ thống thủy lợi Thạch Nham không lay được nước phục vụ nông nghiệp và công nghiệp, toàn bộ lượng nước được trả lại dòng chính sông Trà Khúc. Kết quả tính toán cho thấy Đập Thạch Nham lấy nước trên dòng chính sông Trà Khúc để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp khiến cho dòng chảy ngay sau hạ lưu đập gần như cạn kiệt. Đồng thời đây cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất tới mức độ xâm nhập mặn vào sông Trà Khúc. Trong trường hợp khi đập Thạch Nham không lấy nước, độ mặn phía hạ lưu sông Trà Khúc giảm rất lớn, có vị trí giảm tới 13,9%o đến 14/7%o.
Hơn nữa, mức độ xâm nhập mặn với độ mặn trung bình lớn nhất 1%o cũng giảm 3.5 km đến 3,9 km trên sông Trà Khúc. Đây là van dé cần phải quan tâm đối với công tác vận hành công trình thủy lợi Thạch Nham. Ngoài ra, trong điều kiện biến đối khí hậu đến năm 2030, mặn sẽ xâm nhập sâu vào trong hệ thống sông Trà Khúc - sông Vệ. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra trên quy mô toàn câu, tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới.
Các hiện tượng như triều cường, mực nước biến dâng cao gây sạt lở bờ biên, bờ sông, ngập lut., và đặc biệt la van đề xâm nhập mặn đang là mối quan tâm của nhiều nước. “Evaluation of Computer and Empirical Models for Prediction of Salinity Intrusion in the Bahmanshir Estuary” của J. Yeganeh-Bakhtiary (Dai hoc Khoa hoc va Cong nghé Iran), nam 2007, Tap chi Coastal Research, Tr 658- 662. Mặc dù những mô hình máy tính ngày nay là công cụ thông dung dé dự báo xâm nhập mặn ở vùng cửa sông, nhưng nhiều nhà quản lý cửa sông có xu hướng sử dụng những công cụ đơn giản và tin cậy chang hạn như mô hình thực nghiệm.
Những mô hình này có thé được sử dụng để xác _9- Chương I: Gidi thiệu chung định nhanh chiều dài xâm nhập mặn như một hàm của các thông số đo đạc trực tiếp. Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh hiệu quả của mô hình thực nghiệm với mô hình máy tính. Xâm nhập mặn ở vùng cửa sông Bahmanshir được nghiên cứu bằng cách sử dụng mô hình số một chiều (MIKE 11) va 6 mô hình thực nghiệm (Harleman, Van der Burgh, Rigter, Fischer, Van Os and Abraham, Savenije), ngoại trừ hai mô hình Van der Burgh và Savenije thì tat cả các mô hình còn lại đều dựa các trên kiểm tra trong phòng thí nghiệm và các phép đo mẫu ở vùng cửa sông với mặt cắt ngang là hằng số. Các kịch bản khác nhau được xem xét để tìm ra chế độ dòng chảy tối ưu tương ứng với lưu lượng dòng chảy thượng lưu, điều kiện triều và lượng vào trạm bơm khác nhau.
Kết quả của các kịch bản chỉ ra rằng với điều kiện hiện tại và không xây dựng đập ở hạ lưu thì chất lượng nước được đưa vào trạm bơm không phù hợp cho mục đích tưới tiêu. Bằng cách so sánh các kết quả nhận được từ mô hình thực nghiệm và dữ liệu đo đạc, nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình Van der Burgh (1972) cho kết quả chính xác nhất khi dự báo về chiều dài xâm nhập mặn ở vùng cửa sông Bahmanshir, mặc dù là mô hình SAVENIJE (1993) được đánh giá cao hơn. Điều này có thê được giải thích bằng việc xem xét sự thay đối diện tích mặt cắt ngang hàm không mũ dọc theo cửa sông Bahmanshir. “Control of salt water intrusion due to sea level rise in the coastal zone of Bangladesh” của M.
Dutta (Khoa học Ứng dụng va Kỹ thuật, Dai hoc Monash, c), năm 2011, Bao WIT, Tr 163-173. Một trong những tác động tiềm tàng của su nóng lên toàn câu va nước biến dâng là sự gia tăng nồng độ mặn của các khu vực ven biến, điều này sẽ đe dọa đến nguôn nước sạch và hệ sinh thái thủy sinh. Bài báo này xem xét tác động của nước biên dâng đối với nồng độ mặn ở khu vực Tây Nam của Bangladesh. Mục đích của nghiên cứu là xác định độ nhạy của nông độ mặn trên sông khi có sự thay đổi lưu lượng thượng nguôn và mực - J0- Chương I: Gidi thiệu chung nước biến ha lưu.
Luu lượng dòng chảy thượng nguồn tối thiêu được xác định để ngăn sự xâm nhập mặn khi nước biển dâng. Mô hình lan truyền mặn một chiều được sử dụng và kết hợp với mô hình dòng chảy trên sông và bé mặt hiện có. Tác gia dựa vào các chi số như RRMSE, ABSERR, chi số Nash-Sutcliffe (EF), hệ số tương quan (R*) va phan tram độ lệch dòng chảy đo đạc (PBIAS) để hiệu chỉnh và kiếm định mô hình. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng nồng độ mặn ở khu vực Tây Nam của Bangladesh sẽ tăng tương ứng với mực nước biến dang cùng với điều kiện lưu lượng thượng nguồn giảm làm ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất, nông nghiệp, tính sẵn có của nước ngọt, sự tỒn tại của rừng Sundarban.
“Impacts of potential future sea level rise on the north branch of the Changjiang river estuary: quantifying the saline water intrusion in the dry season” cua tac gia C. Gu (Khoa Khoa học biến, Dai hoc biển Thuong Hai) tại Hội nghị quốc tế về biến Thai Binh Dương và Châu A lần thứ 7 tổ chức tai Indonesia tháng 9 năm 2013, Tr 932-937. Trong bài báo này, nhóm tác giả sử dụng mô hình thủy lực hai chiều MIKE 21 và các kịch bản nước biển dâng 0,5m, lm và 2m dé nghién cuu những tac động có thé có của nước biến dâng đến nhánh phía Bắc của lưu vực sông Changjiang thông qua việc đánh giá sự thay doi của độ mặn trong mùa khô. Dữ liệu thực tế về mực nước triều, vận tốc dòng chảy và độ mặn được đưa vào dé kiểm định mô hình.
Kết quả mô phỏng cho thay rang: i) sự khuếch đại của mực nước triều ở khu vực thượng lưu của nhánh phía Nam cao hơn khu vực thượng lưu của nhánh phía Bắc trong điều kiện nước bién dâng: ii) lưu lượng mùa kiệt và mùa lũ ở mặt cắt ngang thượng lưu của nhánh phía Bắc có xu hướng tăng một cách đáng ké trong điều kiện nước biên dang, với hệ số chia dòng lên xuống của nhánh phía Bac tăng từ 3,8% lên 10,3% theo kịch bản dâng 2m; iii) độ mặn của nhánh phía Bắc có xu hướng giảm va -l|l- Chương I: Gidi thiệu chung mức độ giảm ở khu vực thượng lưu là 11,4% -33,4%, lớn hơn ở trung lưu va hạ lưu. Do đó, có thé kết luận rằng nước biên dâng tăng cường động lực lên xuống và làm giảm bớt hiện tượng xâm nhập mặn ở nhánh phía Bắc. “Influence of the Freshwater Discharge on the Hydrodynamics of Patos Lagoon, Brazil” cua Gustavo Pessoa de Barros, Wiliam Correa Marques, Eduardo de Paula Kirinus (Vién Hai duong hoc, Viện Toán hoc, Thong kê và Vật lý, Dai học Liên bang Rio Grande, Brazil), Tạp chí Quốc tế về Khoa học địa chất, năm 2014, Tr 925-942. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm hiểu cách mà lưu lượng nước ngọt của các nhánh sông chính điều khiến thủy động lực vùng cửa sông của phá Patos khi xem xét trong một khoảng thời gian dài.
Tac gia sử dụng mô hình số TELEMAC 3D để mô phỏng cho hai trường hợp, trường hợp sử dụng lưu lượng nước ngọt từ năm 1940 đến năm 1973 (mô phỏng A), và mô phỏng thứ hai sử dụng dữ liệu từ năm 1974 đến năm 2006 (mô phỏng B). Hai giai đoạn này được lựa chọn bởi vì trước (sau) năm 1973, lưu lượng nước ngọt trung bình hàng năm thấp (cao) hơn so với giá trị trung bình cho cả giai đoạn (1. Sự khác biệt về lưu lượng, mực nước, độ mặn và vận tốc hiện tại giữa hai mô phỏng được phân tích. Kết quả cho thấy trong một khoảng thời gian dai (hơn một năm), lưu lượng nước ngọt là tác nhân chính đại diện cho khu vực phá, lưu lượng từ các nhánh sông chính của khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các yếu tô khí hậu.
Tại cửa sông, mực nước bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa lưu lượng nước ngọt và những tác động từ xa kết hợp với hoàn lưu của khu vực ven biến liền kề. Sự khác biệt đáng ké nhất giữa độ mặn trung bình dưới đáy và bề mặt được ghi nhận ở khu vực trung tâm của cửa sông và tại các đê chắn sóng Barra. Sự biến đối cao hơn này tại khu vực trung tâm của cửa sông có thê bị gay ra bởi su biến động độ sâu do hoạt động nạo vét thường xuyên. Cường độ xả nước ngọt xác định sự phân tầng thắng đứng của các cửa sông.
Sự phân tang thang đứng cho thấy có sự khác biệt đáng kế giữa mô phỏng A - J2- Chương I: Gidi thiệu chung va B trên tat cả các mặt cắt. Về vận tốc dòng chảy trung bình theo phương thăng đứng, không có sự khác biệt đáng kế giữa hai mô phỏng, điều đó cho thấy rằng lưu lượng nước ngọt không phải là tác nhân chính kiểm soát vận tốc theo phương thắng đứng mà là gió. Tác giả quan sát thấy tại mặt cắt dọc đến đê chắn sóng Barra (P3) có các quá trình cuốn theo. Quá trình này được đặc trưng bởi sự di chuyển của nước muối từ dưới đáy lên bề mặt, làm tăng độ mặn của lớp bé mặt.
Ngoài ra tại P3, chúng ta con thấy được sự xâm nhập mặn cao hơn ở cửa sông trong mô phỏng A và cường độ lên xuống cao hơn cho mô phỏng B. Kết quả này chỉ ra rang cường độ xả nước ngọt kiểm soát trực tiếp các dòng nước tiến ra biển và cửa sông. Các chuyên gia khác nhau ước tính rang biến đổi khí hậu sẽ diễn ra trên toàn cầu và ở khu vực phía nam của Brazil, làm thay đổi nhiệt độ và lượng mưa, cũng như, tần số và thời gian của các sự kiện ENSO. Những thay đổi này sẽ làm ảnh hưởng đến thủy động lực học của phá và ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và sinh thái của khu vực này.
Nhân xét: Biên đôi khí hậu đã và đang là môi quan tâm của rât nhiêu nước trên thé giới, với những hệ quả nghiêm trọng do nước biển dang, triều cường tăng, nhiệt độ gia tăng. đặc biệt là van dé xâm nhập mặn vào đến nguôn nước đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, kinh tế - xã hội của mỗi nước, đặc biệt là Việt Nam (nước có đường bờ biển trải dai từ Bắc xuống Nam của lãnh thô).