Tổng quan luận án

Bệnh sởi và bệnh rubella là hai bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền qua đường hô hấp do vi rút sởi và vi rút rubella gây ra, có khả năng bùng phát thành các vụ dịch lớn trong cộng đồng. Sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc và viêm não dẫn đến tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ và trẻ suy dinh dưỡng. Trong khi đó, rubella gây nguy cơ nghiêm trọng cho phụ nữ mang thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ với nguy cơ sảy thai, thai chết lưu và hội chứng rubella bẩm sinh (Congenital Rubella Syndrome - CRS) với nhiều dị tật nặng nề ở trẻ sơ sinh.

Tại Việt Nam, mặc dù Chương trình Tiêm chủng mở rộng kết hợp các chiến dịch tiêm bổ sung đã giảm đáng kể tỉ lệ mắc và tử vong, bệnh sởi vẫn lưu hành với chu kỳ dịch 3–5 năm, chưa hoàn thành mục tiêu loại trừ. Bệnh rubella cũng diễn biến phức tạp và ghi nhận nhiều ca CRS hàng năm. Từ tháng 5/2015, vắc xin phối hợp sởi – rubella được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Nhằm chủ động nguồn cung vắc xin trong nước, Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (POLYVAC) thuộc Bộ Y tế đã tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Công ty Kitasato Daiichi Sankyo Vaccines (KDSV) của Nhật Bản để sản xuất vắc xin phối hợp sởi – rubella mang tên MRVAC. Để đưa vắc xin vào sử dụng rộng rãi, việc kiểm chứng tính an toàn và tính sinh miễn dịch trên người Việt Nam là yêu cầu khoa học bắt buộc.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Đông, chuyên ngành Dịch tễ học (mã số: 9 72 01 17), thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Hồng Dương và TS. Nguyễn Thúy Hường, nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá tính an toàn của vắc xin phối hợp Sởi – Rubella (MRVAC) do POLYVAC sản xuất ở người Việt Nam tình nguyện khỏe mạnh từ 1 đến 45 tuổi tại hai tỉnh Hòa Bình và Hà Nam, năm 2016.
  2. Đánh giá tính sinh miễn dịch của vắc xin MRVAC do POLYVAC sản xuất ở người Việt Nam tình nguyện khỏe mạnh từ 1 đến 45 tuổi tại hai tỉnh Hòa Bình và Hà Nam, năm 2016.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Người Việt Nam tình nguyện khỏe mạnh trong độ tuổi từ 1 đến 45 tuổi, được phân chia theo ba nhóm tuổi: nhóm từ 1 đến 2 tuổi, nhóm từ trên 2 đến dưới 18 tuổi, và nhóm từ 18 đến 45 tuổi.
  • Vắc xin nghiên cứu: Vắc xin phối hợp sởi – rubella sống giảm độc lực (MRVAC) do POLYVAC sản xuất từ chủng sởi AIK-C và chủng rubella Takahashi, cùng vắc xin đối chứng.
  • Phạm vi không gian: Thực địa tại hai tỉnh Hòa Bình và Hà Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và thu thập số liệu thực địa được tiến hành trong năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học bệnh sởi, rubella, cũng như lịch sử phát triển và thử nghiệm lâm sàng các loại vắc xin đơn giá, phối hợp:

Lĩnh vực nghiên cứu Tác giả & Năm công bố Nội dung và phát hiện chính được trích dẫn
Dịch tễ học & Kiểu gen vi rút sởi Moss W. và cs (2006); WHO (2007, 2018); CDC (1998) Mô tả cấu trúc phân tử Paramyxoviridae, các protein N, P, L, M, C, V và glycoprotein H, F; hệ thống phân loại 24 kiểu gen (A–H) của vi rút sởi trên toàn cầu.
Dịch tễ học sởi tại Việt Nam Nguyễn Hạnh Phúc, Vũ Thị Phương Liên và cs (2006–2013); Murakami H. và cs (2008); Dự án TCMR (2014) Xác định kiểu gen vi rút sởi lưu hành tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2006–2013 là kiểu gen H1; đánh giá hiệu quả giảm mắc sau các chiến dịch tiêm vắc xin toàn quốc.
Dịch tễ học & Kiểu gen vi rút rubella Trần Đình Nguyên, Phạm Văn Hùng, Đặng Tiến Trường, Triệu Thị Thanh Vân và cs Phân lập và xác định kiểu gen vi rút rubella lưu hành chính tại Việt Nam trên trẻ em, phụ nữ có thai và người lớn là kiểu gen 2B thuộc nhóm Togaviridae.
Hội chứng rubella bẩm sinh (CRS) Nguyễn Quảng Bắc (Việt Nam); Trần Như Dương và cs (2010–2016) Ghi nhận tần suất dị tật CRS tại Việt Nam: bất thường tim mạch (72%), hẹp động mạch phổi (56%), đục thủy tinh thể (44%), tật vòng đầu nhỏ (96%), vàng da và ban xuất huyết (88%); giám sát tại Bệnh viện Nhi Trung ương xác định 71 ca CRS.
Thử nghiệm vắc xin sởi đơn chủng AIK-C Tsai H. và cs (1993–1994); Đoàn Huy Hậu và cs (2009) Chủng AIK-C cho tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh 97–100% trên trẻ em; thử nghiệm vắc xin MVVAC của POLYVAC tại Hải Phòng đạt chuyển đổi huyết thanh 100% với GMT 5,31 log2 EIA unit.
Thử nghiệm vắc xin rubella Takahashi Yamane Y. và cs (1974) Vắc xin đơn chủng Takahashi đạt chuyển đổi huyết thanh 100% trên cả đối tượng trẻ em và phụ nữ trưởng thành tại Nhật Bản, độ an toàn cao.
Thử nghiệm vắc xin phối hợp MR & MMR Villarejos V. và cs (1970); Kitasato Institute (HF vaccine); Viện Huyết thanh Ấn Độ Vắc xin phối hợp nhị liên và tam liên cho đáp ứng miễn dịch tương đương vắc xin đơn giá, không có hiện tượng ức chế miễn dịch chéo giữa các thành phần kháng nguyên.
Thử nghiệm vắc xin đa thành phần quốc tế Crovari P. và cs (1995–1996); Lee C. và cs (2002); Abu-Elyazeed R. và cs (2014–2015); Shinefield H. và cs (1999) Đánh giá tính an toàn và tính sinh miễn dịch của Priorix, MMR-II, Priorix-Tetra, ProQuad; chứng minh tính dung nạp tốt và mức độ tăng nồng độ kháng thể (GMC/GMT) bền vững.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Mặc dù vắc xin MRVAC đã được POLYVAC sản xuất thành công theo quy trình công nghệ chuyển giao từ Nhật Bản với một số cải tiến chất ổn định (gelatin thủy phân) phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhưng trước thời điểm nghiên cứu chưa có thử nghiệm lâm sàng quy mô đầy đủ trên các nhóm tuổi từ 1 đến 45 tuổi tại thực địa Việt Nam nhằm chứng minh tính tương thích, độ an toàn và khả năng sinh kháng thể bảo vệ trên người tình nguyện bản địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm dịch tễ học

  • Cơ chế miễn dịch đặc hiệu đối với sởi và rubella: Sau khi tiếp xúc với kháng nguyên sống giảm độc lực (chủng AIK-C và Takahashi), cơ thể khởi động đáp ứng miễn dịch dịch thể sinh kháng thể đặc hiệu IgM (giai đoạn sớm) và IgG (duy trì bền vững). Hiệu giá kháng thể dịch thể (HGKT) được đo lường bằng nồng độ trung bình nhân (GMC) hoặc hiệu giá trung bình nhân (GMT).
  • Chuyển đổi huyết thanh (Seroconversion): Đối tượng từ tình trạng âm tính trước tiêm trở thành dương tính sau tiêm, hoặc gia tăng hiệu giá kháng thể trên 4 lần so với mức nền trước tiêm.
  • Ngưỡng miễn dịch cộng đồng: Cần đạt tối thiểu 95% cá thể có miễn dịch đối với bệnh sởi và 83–85% đối với bệnh rubella để cắt đứt chuỗi lây truyền dịch tễ học trong quần thể.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, đánh giá mở có can thiệp, theo dõi dọc trước và sau tiêm vắc xin.
  • Cỡ mẫu và phân nhóm nghiên cứu:
    • Nhóm 1: Trẻ từ 1 đến 2 tuổi.
    • Nhóm 2: Trẻ và thanh thiếu niên từ trên 2 đến dưới 18 tuổi.
    • Nhóm 3: Người trưởng thành từ 18 đến 45 tuổi.
    • Địa điểm triển khai: Các điểm nghiên cứu tại tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Nam.
  • Quy trình can thiệp và theo dõi an toàn:
    • Tiêm vắc xin nghiên cứu MRVAC (hoặc vắc xin đối chứng) theo quy trình chuẩn SOP.
    • Theo dõi biến cố bất lợi (Adverse Events - AE) tại chỗ và toàn thân trong vòng 30 phút đầu sau tiêm tại điểm tiêm chủng.
    • Theo dõi biến cố bất lợi tại thực địa và nhật ký theo dõi trong vòng 28 ngày sau tiêm (đau, sưng, đỏ tại chỗ tiêm, sốt, phát ban, viêm long đường hô hấp, nổi hạch, đau khớp...).
    • Giám sát chặt chẽ các biến cố bất lợi nghiêm trọng (Serious Adverse Events - SAE).
  • Đánh giá tính sinh miễn dịch:
    • Lấy mẫu máu lần thứ nhất (M0) trước khi tiêm vắc xin để xác định tình trạng miễn dịch nền.
    • Lấy mẫu máu lần thứ hai (M1) vào ngày thứ 28 sau tiêm vắc xin.
    • Kỹ thuật xét nghiệm: Sử dụng kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme (EIA - Enzyme Immuno Assay) để định lượng nồng độ kháng thể kháng vi rút sởi và kháng thể kháng vi rút rubella.
  • Phương pháp phân tích số liệu:
    • Thuật toán thống kê y học chuyên biệt phân tích tỉ lệ phần trăm, giá trị trung bình nhân (GMT/GMC), khoảng tin cậy 95% (95% CI).
    • So sánh tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh, mức gia tăng hiệu giá kháng thể theo nhóm tuổi, giới tính và địa phương nghiên cứu.
    • Đảm bảo đầy đủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trên người tình nguyện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa toàn bộ các kiến thức tễ học, cấu trúc sinh học phân tử của vi rút sởi và rubella, cùng lịch sử nghiên cứu vắc xin:

  • Dịch tễ học sởi: Vi rút sởi thuộc họ Paramyxoviridae, chi Morbillivirus, chứa ARN sợi đơn, kích thước 100–250 nm, vỏ capsid đối xứng xoắn, gồm các gai nhú glycoprotein Hemagglutinin (H) và Fusion (F). Nguồn truyền nhiễm duy nhất là người bệnh (từ 4 ngày trước đến 4 ngày sau phát ban). Hệ số lây nhiễm cơ bản R₀ cao (1 ca lây cho 12–18 người). Kiểu gen sởi lưu hành tại miền Bắc Việt Nam là H1.
  • Dịch tễ học rubella và CRS: Vi rút rubella thuộc họ Togaviridae, chi Rubivirus, hạt vi rút hình cầu 60–70 nm chứa ARN đơn và các cấu trúc glycoprotein màng E1, E2 cùng protein C. Kiểu gen lưu hành tại Việt Nam là 2B. Nhiễm rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ truyền qua nhau thai gây hội chứng rubella bẩm sinh (CRS) với các dị tật phổ biến: dị tật tim mạch (72%), hẹp động mạch phổi (56%), tật đầu nhỏ (96%), đục thủy tinh thể (44%).
  • Lịch sử và công nghệ sản xuất MRVAC tại POLYVAC: Vắc xin MRVAC được phối hợp từ hai thành phần bán thành phẩm:
    • Chủng sởi AIK-C: Giảm độc lực qua cấy truyền trên tế bào phôi gà, đột biến Leucine tại vị trí 278 của gen F và Proline tại vị trí 439 của protein P giúp giảm độc lực và mẫn cảm với nhiệt độ.
    • Chủng rubella Takahashi: Giảm độc lực qua cấy truyền trên tế bào thận thỏ tiên phát tạo từ đàn thỏ sạch SPF nhập khẩu từ Nhật Bản; đột biến Histidin ở vị trí 1042 của protein p150 quy định tính nhạy cảm nhiệt độ.
    • Quy trình hoàn thiện: Phối trộn hai bán thành phẩm, bổ sung chất ổn định gelatin đã thủy phân, đông khô và đóng lọ đạt chuẩn kiểm định.
                  Quy trình công nghệ sản xuất MRVAC tại POLYVAC
[Chủng sởi AIK-C / Tế bào phôi gà]       [Chủng rubella Takahashi / Tế bào thận thỏ SPF]
     [BTP Vắc xin Sởi AIK-C]                         [BTP Vắc xin Rubella Takahashi]
                   [Phối trộn + Chất ổn định Gelatin thủy phân]
                            [Đông khô & Đóng gói lọ MRVAC]

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thử nghiệm lâm sàng thực địa tại hai tỉnh Hòa Bình và Hà Nam trong năm 2016:

  • Tiêu chuẩn tuyển chọn: Người tình nguyện khỏe mạnh từ 1 đến 45 tuổi, không mắc các bệnh cấp tính hoặc suy giảm miễn dịch, đồng ý tham gia nghiên cứu và ký văn bản đồng thuận.
  • Tiêu chuẩn phân nhóm:
    • Nhóm trẻ nhỏ: 1–2 tuổi (đối tượng đích trong tiêm chủng thường xuyên).
    • Nhóm thanh thiếu niên: > 2 đến < 18 tuổi (đối tượng chiến dịch tiêm chủng học đường).
    • Nhóm trưởng thành: 18–45 tuổi (bao gồm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ).
  • Quy trình thu thập mẫu và giám sát:
    • Thu thập thông tin nhân chủng học (tuổi, giới tính, địa bàn).
    • Lấy máu M0 trước tiêm để đo hiệu giá kháng thể nền.
    • Thực hiện tiêm vắc xin MRVAC hoặc vắc xin đối chứng dưới da theo đúng quy định chuyên môn.
    • Theo dõi biến cố bất lợi tại chỗ và toàn thân ở mốc 30 phút sau tiêm.
    • Theo dõi và ghi nhận biến cố bất lợi hàng ngày trong suốt 28 ngày sau tiêm.
    • Lấy máu M1 tại ngày thứ 28 sau tiêm để xét nghiệm EIA đánh giá nồng độ IgG kháng sởi và rubella.
  • Quản lý chất lượng và xử lý số liệu: Dữ liệu được làm sạch, mã hóa, áp dụng các thuật toán thống kê y sinh học để so sánh tính an toàn và tính sinh miễn dịch giữa các nhóm tuổi, giới tính, địa phương và nhóm nghiên cứu đối chứng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung kết quả nghiên cứu trong luận án được cấu trúc theo ba nhóm vấn đề trọng tâm:

  1. Đặc điểm nhân trắc học và phân bố đối tượng:

    • Phân bố đồng đều giữa các nhóm tuổi (1–2 tuổi, >2–<18 tuổi, 18–45 tuổi) tại hai địa bàn thực địa Hòa Bình và Hà Nam.
    • Tương quan tỉ lệ giới tính nam/nữ cân bằng ở các nhóm nghiên cứu và đối chứng.
  2. Tính an toàn của vắc xin MRVAC:

    • Biến cố bất lợi trong 30 phút đầu sau tiêm: Tỉ lệ xuất hiện phản ứng tại chỗ và toàn thân ở mức rất thấp, không ghi nhận trường hợp sốc phản vệ hay phản ứng dị ứng cấp tính nặng.
    • Biến cố bất lợi trong 28 ngày sau tiêm: Các phản ứng ghi nhận chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa (sốt nhẹ, phát ban thoáng qua, sưng đỏ đau nhẹ tại chỗ tiêm, ho, chảy mũi), tự khỏi không để lại di chứng. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ biến cố bất lợi giữa nhóm tiêm MRVAC và nhóm đối chứng, cũng như giữa các phân nhóm tuổi, giới tính và tỉnh nghiên cứu.
    • Biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE): Không ghi nhận bất kỳ trường hợp biến cố bất lợi nghiêm trọng nào liên quan đến vắc xin MRVAC trong suốt quá trình theo dõi.
  3. Tính sinh miễn dịch của vắc xin MRVAC:

    • Tình trạng miễn dịch trước tiêm (M0): Xác định tỉ lệ người có kháng thể sởi và rubella tự nhiên theo từng nhóm tuổi và giới tính trước khi can thiệp tiêm chủng.
    • Tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh: Đạt tỉ lệ rất cao ở cả hai thành phần kháng nguyên sởi và rubella sau 28 ngày tiêm vắc xin (M1) trên những đối tượng âm tính trước tiêm.
    • Hiệu giá trung bình nhân (GMT/GMC): Mức GMT của kháng thể kháng sởi và rubella sau tiêm gia tăng mạnh mẽ so với trước tiêm ở cả ba nhóm tuổi và hai giới, khẳng định khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch dịch thể tối ưu của vắc xin MRVAC.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm lâm sàng đầu tiên có hệ thống tại Việt Nam về tính an toàn và tính sinh miễn dịch của vắc xin phối hợp sởi – rubella (MRVAC) sản xuất trong nước trên dải lứa tuổi rộng từ 1 đến 45 tuổi.
  • Chứng minh chủng sởi AIK-C và chủng rubella Takahashi nuôi cấy trên nền tế bào phôi gà và tế bào thận thỏ SPF khi phối trộn với chất ổn định cải tiến (gelatin thủy phân) giữ nguyên vẹn đặc tính sinh miễn dịch dịch thể cao mà không làm gia tăng độc lực hoặc phản ứng phụ trên người Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Khẳng định vắc xin MRVAC do POLYVAC sản xuất đạt các tiêu chuẩn an toàn và hiệu lực miễn dịch tương đương với các vắc xin phối hợp nhập ngoại đang lưu hành.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu dịch tễ học thực địa tin cậy để Bộ Y tế cấp phép lưu hành và đưa MRVAC vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia, giúp Việt Nam hoàn toàn tự chủ nguồn vắc xin phối hợp sởi – rubella, tiết kiệm ngân sách nhà nước và phục vụ hiệu quả mục tiêu loại trừ bệnh sởi và rubella.

Kiến nghị và đề xuất từ luận án

  • Đưa vắc xin MRVAC vào lịch tiêm chủng định kỳ cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên và triển khai trong các chiến dịch tiêm chủng bổ sung cho trẻ em học đường, thanh niên và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
  • Tiếp tục duy trì hệ thống giám sát dịch tễ học biến cố bất lợi sau tiêm chủng và giám sát ca bệnh sốt phát ban nghi sởi/rubella trên quy mô toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được triển khai đánh giá đáp ứng miễn dịch dịch thể tại thời điểm 28 ngày sau tiêm (mẫu M1) trên người tình nguyện khỏe mạnh tại hai tỉnh miền Bắc (Hòa Bình và Hà Nam); chưa đánh giá đáp ứng miễn dịch tế bào chuyên sâu và chưa theo dõi độ tồn lưu kháng thể kéo dài qua nhiều năm sau tiêm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc độ bền và sự suy giảm hiệu giá kháng thể bảo vệ của MRVAC sau 1 năm, 3 năm và 5 năm sau tiêm.
    • Triển khai các nghiên cứu đánh giá hiệu quả bảo vệ thực tế (vaccine effectiveness) của MRVAC trong điều kiện thực địa khi triển khai đại trà trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y khoa: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thiết kế và tổ chức một thử nghiệm lâm sàng vắc xin tại thực địa cộng đồng, phương pháp tính toán cỡ mẫu, quy trình thu thập mẫu máu M0/M1 và kỹ thuật chuẩn độ kháng thể bằng EIA.
  • Đối với các nhà sản xuất vắc xin (POLYVAC, các viện nghiên cứu sinh phẩm): Cung cấp dữ liệu thực chứng về tính ổn định, độ an toàn và đáp ứng kháng thể của công nghệ phối hợp chủng AIK-C và Takahashi trong điều kiện khí hậu và thể trạng người Việt Nam.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách y tế và Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng hướng dẫn sử dụng, phân bổ vắc xin trong tiêm chủng thường xuyên và lập kế hoạch cho các chiến dịch tiêm phòng chống dịch sởi – rubella.

Câu hỏi thường gặp

1. Vắc xin MRVAC do đơn vị nào sản xuất và sử dụng các chủng vi rút nào?
Vắc xin MRVAC do Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (POLYVAC) – Bộ Y tế sản xuất tại Việt Nam, dựa trên công nghệ chuyển giao từ Công ty KDSV (Nhật Bản). Vắc xin phối hợp từ chủng sởi sống giảm độc lực AIK-C (nuôi cấy trên tế bào phôi gà) và chủng rubella sống giảm độc lực Takahashi (nuôi cấy trên tế bào thận thỏ sạch SPF).

2. Nghiên cứu của luận án được tiến hành trên những đối tượng nào và ở đâu?
Nghiên cứu được thực hiện trên người Việt Nam tình nguyện khỏe mạnh từ 1 đến 45 tuổi, chia thành 3 phân nhóm tuổi (1–2 tuổi, >2–<18 tuổi, 18–45 tuổi), triển khai tại hai tỉnh Hòa Bình và Hà Nam trong năm 2016.

3. Các biến cố bất lợi sau tiêm MRVAC được theo dõi tại các mốc thời gian nào?
Biến cố bất lợi được theo dõi ở hai giai đoạn: theo dõi chặt chẽ tại chỗ trong vòng 30 phút đầu sau tiêm để phát hiện các phản ứng cấp tính, và theo dõi liên tục trong vòng 28 ngày sau tiêm để đánh giá các phản ứng tại chỗ (đau, sưng, đỏ) và toàn thân (sốt, phát ban, viêm hô hấp, nổi hạch...).

4. Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá tính sinh miễn dịch trong luận án?
Luận án tiến hành lấy mẫu máu trước tiêm (M0) và ngày thứ 28 sau tiêm (M1), sử dụng kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme (EIA - Enzyme Immuno Assay) để xác định nồng độ/hiệu giá kháng thể IgG kháng sởi và rubella, tính toán tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh và hiệu giá trung bình nhân (GMT/GMC).

5. Kiểu gen (genotype) vi rút sởi và rubella lưu hành phổ biến tại Việt Nam được ghi nhận trong luận án là gì?
Theo các công trình tổng quan dịch tễ học trong luận án, kiểu gen vi rút sởi lưu hành chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2006–2013 là kiểu gen H1; kiểu gen vi rút rubella lưu hành phổ biến tại Việt Nam là kiểu gen 2B.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Xuân Đông đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đánh giá toàn diện tính an toàn và tính sinh miễn dịch của vắc xin phối hợp sởi – rubella (MRVAC) sản xuất trong nước trên người Việt Nam khỏe mạnh từ 1 đến 45 tuổi tại Hòa Bình và Hà Nam năm 2016. Kết quả nghiên cứu chứng minh MRVAC có độ an toàn cao, dung nạp tốt, không gây biến cố bất lợi nghiêm trọng, đồng thời kích thích đáp ứng miễn dịch dịch thể mạnh mẽ với tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh và hiệu giá kháng thể cao ở cả hai thành phần sởi và rubella trên mọi lứa tuổi nghiên cứu. Công trình là cơ sở khoa học vững chắc khẳng định sự thành công của công nghệ sản xuất vắc xin phối hợp tại Việt Nam, góp phần quyết định vào việc tự chủ nguồn vắc xin phòng chống dịch bệnh và hướng tới mục tiêu loại trừ sởi và rubella quốc gia.