Tổng quan nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Nữ thần và Thánh Mẫu giữ vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Việt, phản ánh sâu sắc thế giới quan nông nghiệp và sự tôn vinh vai trò của người mẹ. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trên phạm vi cả nước có tới 1.968 đền miếu thờ Tứ vị Thánh nương – biểu tượng gắn liền với nhân vật trung tâm là Tống Thái hậu (Tống Hậu). Tại châu thổ sông Hồng, vùng đất Ninh Cường (nay gồm bốn xã Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) là một trong những trung tâm phụng thờ Tống Hậu sớm nhất, bắt nguồn từ chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông ban cho 12 cửa biển sau chiến thắng năm 1471.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Quá trình một nhân vật lịch sử ngoại sinh thời Nam Tống được bản địa hóa, thiêng hóa để trở thành thần biển bảo trợ cư dân sông nước và phát triển thành vị Quốc Mẫu đa chức năng trong đời sống làng xã. Mục tiêu trọng tâm là khảo sát diễn trình lịch sử hình thành tín ngưỡng, phân tích hệ thống nghi lễ thực hành và nhận diện những biến đổi văn hóa - xã hội trước và sau cột mốc Đổi mới năm 1986.

Không gian nghiên cứu mở rộng từ trung tâm đền Quốc Mẫu Ninh Cường sang các huyện phụ cận như Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Nam Trực trong giai đoạn từ thế kỷ XV đến năm 2016. Giá trị thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp góc nhìn nhân học chân thực về sự tương thích văn hóa, lý giải hiện tượng tín ngưỡng đền Mẫu phát triển vững chắc ngay tại địa bàn có tới 98% cư dân theo đạo Công giáo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chức năng trong Nhân học của Bronislaw Malinowski và Alfred Radcliffe-Brown nhằm giải thích các thực hành tâm linh như sự đáp ứng trực tiếp đối với nhu cầu sinh tồn, sản xuất và ổn định tâm lý của con người trước hiểm họa thiên nhiên. Đồng thời, lý thuyết nhân học biểu tượng của Clifford Geertz được khai thác để giải mã hệ thống biểu tượng, huyền thoại và nghi thức phụng thờ Tống Hậu như một cơ chế kiến tạo trật tự xã hội và củng cố bản sắc cộng đồng.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: Tục thờ Nữ thần (hình thức sùng bái các lực lượng tự nhiên mang tính nữ); Mẫu thần và Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (sự phát triển nâng tầm từ nữ thần chức năng sang hệ thống thần linh tối cao bảo trợ vũ trụ); Tiếp biến văn hóa (quá trình giao thoa, tiếp nhận và cải biến các yếu tố văn hóa ngoại sinh); và Bản địa hóa tín ngưỡng (sự biến đổi nhân vật lịch sử thành phúc thần phù hợp với tâm thức cư dân bản địa). Mô hình phân tầng ba cấp độ từ Nữ thần, Mẫu thần đến Đạo Mẫu của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam đóng vai trò khung quy chiếu giúp phân định rõ vị trí của Tống Hậu trong bức tranh tổng thể gồm hàng nghìn thần tích nữ thần trên toàn quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình áp dụng phương pháp định tính đặc trưng của Nhân học văn hóa, kết hợp chặt chẽ giữa điền dã dân tộc học và phân tích văn bản học. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 18 người cấp tin chủ chốt, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu mục đích kết hợp chọn mẫu quả tuyết lăn. Nhóm người cấp tin đại diện cho nhiều thành phần: thành viên Ban quản lý di tích, ông bà thủ từ, các thanh đồng thực hành nghi lễ hầu đồng, người đi lễ thường xuyên, trưởng các đoàn hội địa phương và các chức sắc, giáo dân Công giáo sinh sống xung quanh đền.

Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân (thời lượng từ 1,5 đến 3 giờ mỗi cuộc) và quan sát tham dự nhằm thâm nhập sâu vào đời sống tâm linh, nắm bắt quan niệm từ chính góc nhìn của chủ thể văn hóa. Tiến trình thu thập dữ liệu điền dã được triển khai liên tục trong suốt hơn 12 tháng của năm 2015, bao quát 100% các dịp lễ trọng tại đền Mẫu Ninh Cường như: ba ngày hội làng truyền thống, Tết Nguyên Đán, lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, lễ Tịch điền và các tuần tiết rằm, mùng một. Bên cạnh tư liệu điền dã, tác giả tiến hành đối sánh các nguồn văn bản cổ như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư, Ô Châu cận lục cùng hệ thống văn bia, câu đối và thần tích Hán Nôm tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát điền dã và xử lý tư liệu đã làm sáng tỏ bốn phát hiện mang tính đột phá về đời sống tín ngưỡng tại địa phương:

Thứ nhất, tín ngưỡng Tống Hậu tại Ninh Cường đã trải qua tiến trình chuyển hóa quyền năng sâu sắc: từ một vị thần biển nguyên thủy bảo trợ tàu thuyền chuyển sang chức năng nông nghiệp và đời sống thường nhật (ban phát tài lộc, sức khỏe, con cái, công danh). Đồng thời, số lượng đối tượng thờ tự đã tăng từ 1 nhân vật lịch sử ban đầu lên cấu trúc 4 vị thánh nương (Tống Thái hậu, Hoàng hậu con dâu và 2 nàng công chúa), phản ánh quy luật chuộng số chẵn biểu trưng cho tính âm và tính nữ trong văn hóa Việt.

Thứ hai, mô hình cộng cư hòa hợp giữa 98% giáo dân Công giáo và cộng đồng tín ngưỡng đền Mẫu tại 4 xã vùng Ninh Cường diễn ra ổn định suốt hơn 480 năm (từ khi đạo Công giáo truyền bá vào năm 1533). Hiện tượng phân bố dân cư đan xen theo tỷ lệ ước tính 9 phần Công giáo, 1 phần lương giáo (thường gọi là cấu trúc xôi đỗ) không dẫn tới xung đột tôn giáo, mà ngược lại, tạo nên sự tôn trọng không gian thiêng và gìn giữ di sản chung của quê hương.

Thứ ba, sự bùng nổ của xu hướng Tam phủ, Tứ phủ hóa và thương mại hóa nghi lễ tâm linh sau năm 1986. Tần suất các khóa hầu đồng và nghi lễ bán khoán tăng trưởng ước tính hơn 35% so với giai đoạn trước Đổi mới. Số liệu thống kê khách hành hương vào các ngày mùng 1 tháng 10, tháng 11 và tháng 12 âm lịch năm 2015 ghi nhận hàng nghìn lượt người từ các huyện Nam Trực, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và các tỉnh xa về xin rước chân nhang, chứng minh vai trò đền chánh của ngôi đền trong vùng.

Thứ tư, ký ức khai hoang lập làng gắn liền mật thiết với việc phụng thờ Tống Hậu. 100% các dòng họ thuộc khối Tứ tính (Trần, Vũ, Hoàng, Phạm) và Cửu tộc khai khẩn 9.063 mẫu đất từ năm 1485 đều xem ngôi đền là biểu tượng cội nguồn gắn với công cuộc quai đê Hồng Đức ngăn mặn dài 12km.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt căn bản giữa tín ngưỡng Tống Hậu tại Việt Nam và Trung Quốc phản ánh tính khúc xạ văn hóa rõ rệt. Trong khi tại miếu Từ Nguyên (Quảng Đông, Trung Quốc), Dương Thái hậu được tôn vinh như một liệt nữ toàn tiết theo chuẩn mực đạo đức Nho giáo, thì tại Việt Nam, bà được huyền thoại hóa thành vị thủy thần hiển linh cứu trợ quân dân qua các cuộc bình Chiêm của vua Trần Anh Tông (1311) và vua Lê Thánh Tông (1471). Sự hòa nhập của tín ngưỡng thờ thần cá của cư dân bản địa, biểu tượng khúc gỗ trôi sông và tín ngưỡng phồn thực đã giúp một vị thần ngoại lai nhanh chóng trở thành thần bảo trợ sông nước của người Việt.

Dữ liệu nghiên cứu thực địa có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện biến thiên lượng khách hành hương trong các tháng cao điểm cuối năm và bảng ma trận đối sánh 5 chiều giữa tín ngưỡng Tống Hậu tại Việt Nam và Trung Quốc (về đối tượng, danh hiệu, chức năng, không gian phân bố và bản chất nghi lễ). Việc diễn giải này làm rõ cách thức người dân ứng xử linh hoạt với các biến động kinh tế - xã hội đương đại thông qua việc tìm kiếm điểm tựa tâm linh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của di tích đền Mẫu Ninh Cường, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa quy chế thực hành nghi lễ và ngăn chặn biến tướng thương mại hóa: Kiểm soát 100% các khóa lễ hầu đồng, dâng lễ và bán khoán diễn ra đúng nghi thức cổ truyền; hoàn thành ban hành bộ quy tắc ứng xử văn minh nơi thờ tự trong 6 tháng đầu năm 2024; cơ quan chịu trách nhiệm chính là Ủy ban nhân dân xã Trực Phú phối hợp cùng Ban quản lý di tích đền Mẫu Ninh Cường.

  2. Số hóa toàn diện tư liệu Hán Nôm và thần tích làng xã: Tiến hành phục dựng, dịch thuật và số hóa 100% các bản sắc phong, thần phả, văn bia, hoành phi câu đối cổ trong vòng 12 tháng (giai đoạn 2024 - 2025); chủ thể thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định chủ trì, phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

  3. Xây dựng tuyến du lịch di sản văn hóa tâm linh liên huyện: Gia tăng tỷ lệ tăng trưởng khách tham quan học thuật và du khách hành hương đạt mức 25% đến 30% mỗi năm; lộ trình triển khai trong 3 năm (2024 - 2026); cơ quan thực hiện là Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Trực Ninh liên kết cùng các đơn vị lữ hành tại Nam Định và Hà Nội.

  4. Thiết lập chương trình giáo dục truyền thống gắn kết liên tôn giáo: Tổ chức tối thiểu 4 chuyên đề ngoại khóa và tọa đàm thường niên về lịch sử quai đê lấn biển thời Hồng Đức cho 100% học sinh các trường trung học trên địa bàn 4 xã; thời gian bắt đầu từ quý 3 năm 2024; chủ thể điều phối là Hội đồng Giáo dục xã cùng Ban đại diện các dòng họ Tứ tính - Cửu tộc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và nguồn tư liệu điền dã của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Nhân học, Văn hóa học, Tôn giáo học: Tiếp cận một khung phân tích chức năng mẫu mực và nguồn tư liệu thực chứng phong phú về quá trình tiếp biến văn hóa, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu liên ngành.

  2. Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan tham mưu chính sách tôn giáo các cấp: Tham khảo cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động của xu hướng thế tục hóa, thương mại hóa lễ hội, từ đó xây dựng chính sách quản lý không gian thiêng và duy trì khối đại đoàn kết tôn giáo tại cơ sở.

  3. Nhà nghiên cứu địa chí, lịch sử địa phương và cộng đồng cư dân Nam Định: Sử dụng các tư liệu khảo cứu chuẩn xác về diễn trình khai hoang 9.063 mẫu đất vùng Quần Anh - Ninh Cường từ thế kỷ XV để bổ sung vào địa chí huyện Hải Hậu, Trực Ninh và biên soạn gia phả các dòng họ.

  4. Các tổ chức bảo tồn di sản và chuyên viên phát triển sản phẩm du lịch: Khai thác không gian văn hóa đền Mẫu và lễ hội truyền thống để xây dựng các tour du lịch văn hóa trải nghiệm, kết nối chuỗi di tích dọc sông Ninh Cơ và duyên hải Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tín ngưỡng Tống Hậu có nguồn gốc từ đâu và du nhập vào Việt Nam khi nào? Tín ngưỡng bắt nguồn từ sự kiện diệt vong của nhà Nam Tống năm 1279 tại Trung Quốc, khi Dương Thái hậu cùng hoàng tộc nhảy xuống biển tuẫn tiết. Thi thể trôi dạt vào bờ biển Nghệ An và được cư dân địa phương an táng, lập đền thờ tại cửa Cờn, sau đó nhanh chóng lan tỏa dọc theo các cửa sông, cửa biển Đại Việt từ đầu thế kỷ XIV.

Tại sao một vị Thái hậu Trung Hoa lại được tôn xưng làm Thần biển và Quốc Mẫu tại Việt Nam? Khi du nhập vào nước ta, hình tượng Tống Hậu đã dung hợp với tín ngưỡng thờ thần cá Chăm Pa, tín ngưỡng thờ Nữ thần và tục thờ Mẹ lúa nước. Sự kiện báo mộng giúp vua Trần Anh Tông thắng trận năm 1311 đã giúp bà được triều đình sắc phong là Thượng đẳng thần và nhân dân suy tôn làm Mẫu bảo trợ mùa màng, sinh sản.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa tục thờ Dương Thái hậu ở Trung Quốc và Việt Nam là gì? Ở Trung Quốc, bà chỉ được thờ tại một địa điểm duy nhất ở Quảng Đông như một liệt nữ trung trinh tiết liệt theo tiêu chuẩn Nho giáo. Ngược lại, ở Việt Nam, tín ngưỡng mở rộng với cấu trúc Tứ vị Thánh nương tại gần 2.000 đền miếu, giữ vai trò thủy thần đa chức năng mang đậm tính dung hợp dân gian.

Mối quan hệ giữa cộng đồng Công giáo và tín ngưỡng đền Mẫu tại Ninh Cường diễn ra như thế nào? Dù 98% dân số địa phương theo đạo Công giáo từ thế kỷ XVI, hai cộng đồng vẫn cùng chung nguồn cội khai hoang mở đất của Tứ tổ Quần Anh. Người dân tôn trọng không gian tín ngưỡng của nhau, cùng tham gia bảo vệ cảnh quan di tích và giữ gìn trật tự an ninh trong các dịp lễ hội lớn của làng.

Phương pháp nghiên cứu nào mang lại độ tin cậy cao nhất cho luận văn? Phương pháp định tính nhân học với 18 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và hơn 12 tháng quan sát tham dự thực địa trong năm 2015 là trụ cột chính. Cách tiếp cận này cho phép tác giả thấu cảm sâu sắc trải nghiệm tâm linh của người thực hành nghi lễ và thu thập nguồn sử liệu truyền khẩu chân thực từ địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng và hệ thống hóa toàn diện quá trình tiếp biến, bản địa hóa tín ngưỡng Tống Hậu tại vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ trong suốt hơn 700 năm lịch sử.
  • Phân tích sâu sắc mô hình cộng cư hòa bình và dung hợp văn hóa độc đáo giữa 98% đồng bào Công giáo và cộng đồng phụng thờ đền Mẫu tại địa bàn huyện Trực Ninh.
  • Làm sáng tỏ cơ chế chuyển hóa quyền năng tâm linh từ một vong linh trôi dạt trên biển trở thành Quốc Mẫu cai quản nông nghiệp, hộ quốc an dân và đáp ứng đa dạng nhu cầu thế tục.
  • Nhận diện tường minh tác động đa chiều của xu hướng Đổi mới kinh tế sau năm 1986 đối với sự phục hưng nghi lễ hầu đồng và hiện tượng thương mại hóa không gian di sản.
  • Đóng góp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học giàu giá trị thực chứng thông qua 18 cuộc phỏng vấn sâu và chuỗi quan sát tham dự xuyên suốt năm 2015.

Đóng góp lớn nhất của công trình là khẳng định bản lĩnh dung hợp văn hóa và sức sáng tạo tín ngưỡng mãnh liệt của người Việt trong việc tiếp thu các yếu tố ngoại sinh để làm giàu bản sắc dân tộc. Trong giai đoạn 2024 - 2026, hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát đối sánh toàn diện tại hệ thống 12 cửa biển lịch sử nhằm hoàn thiện bản đồ di sản Tứ vị Thánh nương trên toàn quốc. Các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý và bạn đọc quan tâm có thể khai thác tư liệu từ luận văn này để ứng dụng hiệu quả vào công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế du lịch bền vững tại địa phương.