Chương 1: Cảnh huống ngôn ngữ của tiếng Kinh và một vài vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài. Ở chương viết này, trước hết luận án cung cấp cho người đọc một bức tranh khái quát về “Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc”. Sau đó, chúng tôi sẽ trình bày một vài nội dung liên quan đến “lý thuyết” phục vụ cho nhiệm vụ của đề tài. Cuối cùng, luận án cũng sẽ cung cấp để người đọc nhận biết quá trình thu thập tư liệu phục vụ cho mục đích mô tả của luận án.
Chương 2: Mô tả đặc điểm cấu trúc ngữ âm của tiếng Kinh Đây là một trong những chương thể hiện nhiệm vụ chính của luận án. Ở chương thứ hai này, luận án trước hết sẽ miêu tả những “đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Kinh”. Sau đó luận án sẽ miêu tả âm vị học “bức tranh ngữ âm hiện nay của tiếng Kinh” thể hiện qua việc mô tả hệ thống thanh điệu, hệ thống ngữ âm đoạn tính tiếng Kinh. Như vậy, với chương viết này, chúng tôi hy vọng người đọc sẽ nhận được một bức tranh toàn cảnh và chi tiết về hệ thống ngữ âm tiếng Kinh, mà cụ thể là tiếng Kinh ở làng Vạn Vỹ.
23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 3: Một số đặc điểm cấu trúc từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh Ở hai nội dung này, mô tả của Vi Thụ Quan [107], theo chúng tôi, là tương đối chi tiết. Vì thế, trong chương thứ ba này, chúng tôi sẽ chỉ miêu tả những gì mà công trình của Vi Thụ Quan chưa mô tả liên quan đến vấn đề cấu tạo từ, các lớp từ vựng trong tiếng Kinh. Cũng vậy, trong chương này, chúng tôi chỉ sẽ mô tả thêm một số “đặc điểm cấu trúc ngữ pháp tiếng Kinh” mà chúng tôi nhận thấy chưa có ở công trình “Nghiên cứu tiếng Kinh”. Như vậy, việc mô tả hai bình diện này của tiếng Kinh cũng là những nhiệm vụ chính của chúng tôi.
Chương 4: Tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc trong mối tương quan với tiếng Việt hiện đại và tiếng Hán. Trong chương viết thứ tư này, chúng tôi sẽ trình bày một vấn đề cụ thể như sau. Khi đã cho tiếng Kinh là sự tiếp tục của tiếng Việt trước đây trong một môi trường mới, chúng ta cần nhận biết sự kế thừa ấy là như thế nào. Chính vì vậy, qua mô tả chi tiết về ngữ âm làng Vạn Vỹ ở chương 2, chúng tôi bước đầu nhận diện “những dấu ấn đáng chú ý” trong kế thừa tiếng Việt ở tiếng Kinh là gì.
Công việc chính của chương viết này là làm sáng rõ những khác biệt giữa mô tả của chúng tôi và mô tả của Vi Thụ Quan đã có trước đó. Làm như vậy cũng có nghĩa là chúng tôi sẽ chỉ ra “những khác biệt của tiếng Kinh so với tiếng Việt hiện đại” về ngữ âm như thế nào. Sau đó qua sự khác biệt ấy, bước đầu góp phần vào 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc lý giải đặc điểm phát triển của tiếng Kinh trong một môi trường mới ở Trung Quốc. Cũng xin nói thêm là do khuôn khổ một luận án Tiến sỹ, với mục đích mô tả toàn diện tiếng Kinh để góp phần cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cảnh về ngôn ngữ này, ở mỗi chưong viết dù có cố gắng kết quả miêu tả của chúng tôi cũng mới chỉ là bước đầu, bổ sung thêm cho những gì đã có.
Hy vọng rằng, trong tương lai, từng vấn đề cụ thể như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ này sẽ được mô tả sâu hơn ở mỗi một chuyên luận dàng riêng cho nó. Nếu được như vậy, chắc chắn, từng nội dung sẽ có những thời lượng đủ cho việc trình bày chi tiết vấn đề. CHƯƠNG MỘT 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ CỦA TIẾNG KINH VÀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc.Tình hình chung của dân tộc Kinh.
Tình hình hiện nay của dân tộc Kinh. Dân tộc Kinh là một trong 55 dân tộc ít người của Trung Quốc, họ chủ yếu tập trung sinh sống tại ba làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu (hay còn có tên gọi khác là Mú Thầu) thuộc xã Giang Bình thị xã Đông Hưng thành phố Phòng Thành Cảng, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc. Làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu được người Trung Quốc gọi là “Kinh tộc ba đảo”. Số người Kinh còn lại sống đan xen với đồng bào các dân tộc Hán, Choang và Dao tại các làng Đàm Cát, Hồng Khảm, Hằng Vọng, Trúc Sơn, Giang Sơn và Giang Long …cũng đều thuộc xã Giang Bình.
Theo kết quả thống kế dân số toàn quốc lần thứ năm (năm 2000), dân số dân tộc Kinh là 22,517 người, đứng thứ 41 trong số 55 dân tộc ít người Trung Quốc. Dân tộc Kinh có ngôn ngữ riêng của mình: tiếng Kinh. Tiếng Kinh là công cụ giao tiếp chủ yếu của người Kinh trong cộng đồng. Dân tộc Kinh không có chữ viết latinh, từ xưa đến nay đều sử dụng chữ Hán để ghi tiếng Kinh gọi là “chữ Nôm”.
Tổ tiên của người Kinh đã từng tự tạo ra một loại chữ viết gọi là chữ Nôm này. Họ kết hợp sử dụng chữ Nôm và 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chữ Hán để viết kinh thư, ghi lại ca dao và văn hiến. Nhưng vì số lượng của loại chữ viết Nôm có giới hạn, vì vậy người Kinh thường dùng chung với chữ Hán; đồng thời phạm vi lưu thông cũng có hạn, chỉ dùng để viết văn hiến, kinh thư và bài hát, chưa trở thành chữ viết thông dụng. Cho đến nay vẫn chỉ có một số rất ít người Kinh biết được loại chữ viết Nôm này.
Dân tộc Kinh lấy nghề cá làm chính, nông nghiệp trồng trọt làm phụ, thuộc loại hình kinh tế văn hóa nghề cá và nông nghiệp ven biển. Nghề cá là ngành nghề truyền thống của cư dân dân tộc Kinh. Ngoài đánh cá ra, người Kinh còn bắt cua, ốc v.v… Ngoài nghề cá ra, người Kinh cũng có sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, khoai lang, ngô, khoai sọ và lạc v. Vùng dân tộc Kinh còn trồng nhiều hoa quả nhiệt đới như chuối, nhãn, đu đủ, mít v.
Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Kinh. Về nguồn gốc của dân tộc Kinh, chúng tôi đã tìm thấy những tài liệu ghi trong cuốn Bản báo cáo điều tra về dân tộc Việt ở Phòng Thành năm 1953 như sau: Làng Vạn Vỹ vẫn giữ văn bản trả lời về khai thác ruộng đất của dịch mục Võ Đình Tân, lý trưởng Ngô Đình Mễ, Sơn Vạn An Hải châu Vạn Ninh phủ Hải Ninh tỉnh Quảng An, trong văn bản có nhắc đến niên hiệu “năm thứ mười hai Minh Mạng” và “năm thứ mười tám năm Minh Mạng”; quy ước làng dùng niên hiệu “năm thứ hai mươi tám Tự Đức”, trong đó có một bản ghi “năm thứ ba Hồng Thuận, tổ tiên ta từ 27 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quê hương Đồ Sơn phiêu bạt đến đây”…sau khi tra cứu được biết, năm Hồng Thuận là niên hiệu của Lê Đồng Giao Chỉ đời Minh Trung Quốc, tức năm 1511; thời Minh Mạng tương đương với những năm Đạo Quang đời Thanh, còn năm thứ mười Tự Đức tương đương năm thứ sáu Hàm Phong đời Thanh, tức năm 1856… [113,tr18] Từ những nội dung của tài liệu trên cho thấy, người ta có căn cứ để nói rằng tổ tiên người Kinh là người miền Bắc Việt Nam. Trong thời kỳ đầu những năm 50 thế kỷ XX, ở Trung Quốc dân tộc Kinh từng được gọi là “dân tộc Việt”. Năm 1958, khi thành lập huyện tự trị các dân tộc Đông Hưng, dựa theo lịch sử, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, tập tục và nguyện vọng của người dân, và được sự phê duyệt của Quốc vụ viện Trung Quốc, dân tộc này được chính thức đặt tên là dân tộc Kinh.
Như vậy, tên gọi dân tộc Kinh được xuất hiện ở Trung Quốc từ năm 1958 và nó được thay thế cho tên gọi dân tộc Việt trước đó. Môi trường sinh thái tự nhiên và kinh tế xã hội của dân tộc Kinh. Kinh tộc ba đảo Sơn Tâm, Vạn Vỹ và và Vu Đầu nằm ở cực tây nam đường biển Trung Quốc, nằm trong tọa độ địa lý 21°39 vĩ độ Bắc và 108°22 kinh độ Đông, trông ra Vịnh Bắc Bộ, phía sau là dãy núi Thập Vạn, cách Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không xa, trong đó gần Việt Nam nhất là đảo Vạn Vỹ. Tổng diện tích của Kinh tộc ba đảo là 20,8 ki lô mét vuông.
Khí hậu của ba đảo này thuộc cận nhiệt đới, nhiệt 28 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ cao nhất trong năm là 34°c, nhiệt độ thấp nhất là 10°, nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5°c -25,1°c. Bốn mùa không rõ rệt, tuy rằng mùa hè nhiệt độ khá cao, nhưng vì có gió biển điều tiết, cho nên cũng không khô ráo oi bức. Lượng mưa đầy đủ, lượng mưa trung bình hàng năm 1300mm. Địa hình của ba đảo không cao, chỉ cao hơn mặt biển 8 mét.
Sau khi Trung Quốc thi hành chính sách cải cách mở cửa, người Kinh vừa sản xuất nông nghiệp, vừa tận dụng ưu thế địa phương, ra sức phát triển nghề cá, tính tích cực sản xuất của quần chúng nhân dân không ngừng được nâng cao, trình độ sản xuất kinh tế và mức sống nhân dân nâng cao hàng năm, nhiều loại hình kinh tế cũng xuất hiện, có một số người dân sản xuất nông nghiệp, một số người dân khác lại làm nghề cá truyền thống, còn có một số người Kinh đi buôn qua biên giới. Hơn mười năm trở lại đây, ngươi Kinh ra sức phát triển ngành du lịch. Bãi biển ở đảo Vạn Vỹ có màu vàng óng, nên được mệnh danh là “bãi vàng”. “Bãi vàng” dài 8 cây số, phẳng lặng, sóng êm, nước ấm, là một bãi tắm thiên nhiên, trùng hợp với chủ đề “biển cả, bãi cát, ánh nắng” của ngành du lịch quốc tế.
Dân tộc Kinh lại là một dân tộc xuyên quốc gia, có văn hóa tập tục truyền thống đặc biệt như trang phục, ăn uống, nhà ở, ngày lễ, ngày hát và biểu diễn đàn bầu v. Ngành du lịch với đặc điểm của văn hóa truyền thống dân tộc Kinh ngày càng được phát triển. Với sự phát triển những ngành nghề đa dạng này, dân tộc Kinh đã trở thành một dân tộc thiểu số giàu có nhất Trung Quốc. Năm 2006, thu nhập bình quân đầu 29 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người dân tộc Kinh là 3976 đồng nhân dân tệ, cao hơn 1176 đồng nhân dân tệ so với thu nhập bình quân đầu người Quảng Tây.